Tập 29: Dạy dỗ trẻ nhỏ phải giữ chữ tín khi nói và trí tuệ trong lời nói như thế nào?

CHƯƠNG THỨ TƯ: TÍN 

19. PHÀM XUẤT NGÔN, TÍN VI TIÊN. TRÁ DỮ VỌNG, HỀ KHẢ YÊN. THOẠI THUYẾT ĐA, BẤT NHƯ THIỂU. DUY KỲ THỊ, VẬT NỊCH XẢO. GIAN XẢO NGỮ, UẾ Ô TỪ. THỊ TỈNH KHÍ, THIẾT GIỚI CHI. 

19.1. Phàm xuất ngôn, tín vi tiên (Phàm nói ra, tín trước tiên)

19.2. Trá dữ vọng, hề khả yên (Lời dối trá, sao nói được)

19.3. Thoại thuyết đa, bất như thiểu. Duy kỳ thị, vật nịnh xảo  (Nói nhiều lời, không bằng ít. Phải nói thật, chớ xảo nịnh) 

19.4. Gian xảo ngữ, uế ô từ. Thị tỉnh khí, thiết giới chi (Lời gian xảo, từ bẩn thỉu. Thói tầm thường, phải trừ bỏ) 

 

CHƯƠNG THỨ TƯ TÍN (tiếp)

[29]Chúng ta đã nói đến “đạo nghĩa”, “tín nghĩa” giữa bạn bè với nhau, cũng nhắc đến giữa bạn bè phải khuyên can lẫn nhau, quan tâm lẫn nhau, khen ngợi, tán thưởng lẫn nhau. Thật ra, khi các vị khen ngợi người khác thì tự mình cũng được xông mùi thơm đó. Tiếp đến là không được nói những việc xấu trong gia đình, và cuối cùng là đạo nghĩa về tiền tài. Tài có hai loại là ngoại tài và nội tài. Nội tài là dùng sức lao động của mình, dùng kinh nghiệm, trí tuệ của mình để giúp đỡ bạn bè.

Tục ngữ có câu: “Cứu cấp không cứu bần”. Quý vị thân mến! Cái gì được gọi là bần? Không có tiền thì được gọi là bần ư? Hiện tại anh ấy không có tiền nhưng sau này sẽ lại có. Chỉ cần anh ấy có chí khí, chỉ cần anh ấy chịu học hỏi. Cho nên sợ ở đây là sợ anh ấy ngay cả ý chí, ngay cả cái tâm muốn học hỏi cũng không có. Như vậy mới chân thật là bần cùng. Cho nên khi đối phương có thái độ như vậy, các vị có lấy tiền ra giúp đỡ thì họ càng ngày sẽ càng ỷ lại, thậm chí càng ngày càng cảm thấy lẽ đương nhiên phải như vậy. Đáng nhẽ là chúng ta giúp đỡ họ nhưng cuối cùng lại thành ra hại họ.

Cho nên, giúp đỡ người khác cũng cần dùng trí tuệ của chúng ta, nếu không sẽ trở thành “Dùng tâm thiện đi làm việc ác”. Ví dụ như đối phương không có nhận thức phải có trách nhiệm đối với gia đình, anh ấy thường xuyên đi uống rượu và lại đến mượn tiền của các vị. Các vị không được cho họ mượn. Nhưng các vị lại không thể đuổi anh ấy đi bởi như vậy sẽ gây oán thù. Lúc này các vị phải gọi họ vào nhà và ngồi xuống, chỉ cần các vị có nguyên tắc thì anh ấy sẽ không thể đụng vào tiền của các vị được. Nhưng mỗi lần ngồi xuống thì các vị cũng phải giảng cho anh ấy một, hai câu cái đạo lý làm người, thậm chí kể cho anh ấy nghe một số kinh nghiệm thực tế trong công việc của các vị, hoặc là kinh nghiệm tự mình cổ vũ mình, phải chỉ bảo cho anh ấy để anh ấy có thể tích lũy được trí tuệ, năng lực trong công việc. Đương nhiên là nhất định phải chuẩn bị một cuốn “Đệ Tử Quy” để tặng cho anh ấy.

Người lớn rất coi trọng thể diện, cho nên các vị không thể nói: “Anh hãy học cho tốt quyển sách này vì anh chưa học được tốt quyển sách này đâu”. Không nên nói như vậy! Chúng ta nói năng phải có nghệ thuật khéo léo: “Anh có đứa con trai rất là đáng yêu”. Nói chung các vị hãy tìm những điều tốt đẹp để nói: “Con của anh rất đáng yêu, quyển sách này là tặng cho con anh để học tập, sau này cháu nhất định sẽ thành đạt. Nhưng Thánh nhân của chúng ta có dạy rằng giáo dục thì phải “thượng sở thi, hạ sở hiệu” (trên làm dưới noi theo), cho nên chúng ta là cha mẹ thì phải làm gương cho con cái noi theo”.

Các vị cũng đừng nói rằng: “Anh không làm gương tốt, có đúng vậy không?”. Các vị cứ nhẹ nhàng, khéo léo để khuyên anh ấy, tin rằng từng chút, từng chút một cũng sẽ làm cho quan niệm của anh ấy từ từ thay đổi. Điều này cũng phải dựa vào tấm lòng của chúng ta thật sự tin tưởng vào điều “nhân chi sơ, tính bản thiện” hay không. Phải chân thành như vậy, tâm phải bình đẳng như vậy thì chúng ta mới làm được.

Cho nên, chúng ta có “đạo nghĩa về tiền tài” thì cái “tài” này không phải là tiền tài, mà là nói về những kinh nghiệm, trí tuệ của chúng ta. Đợi đến khi anh ấy cũng học được những kinh nghiệm, phương pháp, trí tuệ này, thì tin rằng anh ấy cũng có thể chăm sóc rất tốt cho gia đình của mình. Cho nên sự giúp đỡ của các vị không chỉ là giúp trong một chốc, một lát, mà là giúp ích cả đời. Đây là chúng ta nhắc đến đạo nghĩa, tín nghĩa không cần dùng lời để nói giữa bạn bè với nhau.

Ngoài những nghĩa vụ cần có trong năm mối quan hệ ra, chúng ta cũng nên nghĩ lại rằng hôm nay có được những giáo huấn của Thánh Hiền là từ đâu mà có. Mấy nghìn năm nay, những Thánh nhân đã phải tốn không biết bao nhiêu mồ hôi và công sức, có rất nhiều kinh nghiệm khắc cốt ghi tâm thì mới để lại được những tinh túy của trí tuệ như vậy. Tuyệt đối không phải ngẫu nhiên mà có.

Mấy năm trước tôi có nghe thầy của tôi là Hòa Thượng Tịnh Không có giảng một đạo lý. Hòa Thượng nói: “Trong bốn nền văn minh cổ đại của toàn cầu, hiện giờ chỉ còn lại có một”. Đó là  nước nào? “Trung Quốc”. Câu trả lời rất đúng.

Vậy có phải Tổ tiên của bốn nền văn minh cổ đại này ở trước mặt Thần Linh để nghe Thần Linh phán bảo rằng: “Nào! Mọi người hãy bốc thăm! Ai bốc được thì không bị diệt vong”. Ai bốc được thì không bị diệt vong và may mà Tổ tiên người Trung Quốc bốc thăm được. Tốt quá! Không bị diệt vong. Có phải như vậy không? Có kết quả ắt phải có nguyên nhân. Vậy tại sao những nền văn minh khác bị diệt vong mà chúng ta lại không bị diệt vong? Điều này quyết không phải là ngẫu nhiên. Cho nên lời nói này của thầy đã làm cho sự chú ý của tôi đều tập trung cao độ. Quả thật từ trước tới giờ tôi không hề nghĩ đến vấn đề này.

Tiếp theo Hòa Thượng lại nói, Tổ tiên hiểu được rất nhiều về cuộc đời, ví dụ như có câu: “Nhân sinh thất thập cổ lai hi”. Có rất nhiều người khi đến tuổi bốn mươi, năm mươi, khi chợt ngoảnh lại nhìn con đường mấy chục năm trước đã đi thì họ chợt có một sự cảm khái. Họ sẽ nói: “Giá như cho mình đi lại một lần nữa trên con đường nhân sinh này thì nhất định mình sẽ không phạm phải nhiều lỗi lầm đến vậy”. Cuộc đời lúc nào cũng có những niềm ân hận như vậy thì thật không viên mãn. Cũng bởi Tổ tiên chúng ta hiểu được rằng nếu như trí tuệ này không được truyền thừa lại cho đời sau, thì mỗi một con người đều phải mò mẫm từ đầu trong đường đời của họ. Và cũng bởi sự yêu thương con cháu đời sau, thậm chí là yêu thương tất cả nhân loại, hy vọng có thể đem trí tuệ mấy nghìn năm truyền thừa không gián đoạn cho đời sau, cho nên Tổ tiên mới phát minh ra công cụ để truyền thừa trí tuệ được gọi là: “Văn ngôn văn” (thể văn cổ của Trung Quốc).

Một người có thể làm ra một việc rất vĩ đại tuyệt đối cũng đều bắt đầu từ ý niệm của người đó. Xuất phát từ sự yêu thương như vậy thì sẽ có được một phương pháp tốt. Cho nên Tổ tiên chúng ta đã quan sát và thấy rằng nếu không tách riêng ngôn ngữ và chữ viết thì rất khó mà có thể truyền lại được. Chúng ta hãy nghĩ xem, ví dụ như La Mã có để lại chữ viết, để lại rất nhiều văn chương nhưng bây giờ thì các nhà sử học, các nhà khảo cổ học có xem còn chưa chắc đã hiểu. Những lưu vực lưỡng hà cũng có để lại chữ viết, nhưng bây giờ không có mấy ai xem mà hiểu được. Ngay cả chữ xem còn không hiểu thì nói gì hiểu được ý nghĩa của nó.

Tôi cũng từng nói chuyện với một người bạn. Anh ấy nói anh rời xa quê hương đã hai mươi năm, khi trở về và nói chuyện với bạn bè người thân thì đã có một số từ ngữ anh nghe mà không hiểu, hoặc là tôi nghe không hiểu. Ngôn ngữ hai mươi năm là có sự thay đổi nhỏ, nhưng hai trăm năm thì có sự thay đổi rất lớn. Nếu như viết văn mà cũng giống như lời nói thì những bài văn mà người của hai nghìn năm trước viết, các vị xem tuyệt đối xem không hiểu. Cho nên, chúng ta mới hiểu được một điều rằng tất cả những văn chương không thể viết theo ngôn ngữ của thời đó, mà phải dùng “văn ngôn văn”. Tất cả những trí tuệ của mấy nghìn năm đều phải dùng “văn ngôn văn” để viết. Khi hiểu được “văn ngôn văn” thì chúng ta có thể trực tiếp là đệ tử của Khổng Phu Tử hơn hai nghìn năm trước, và cũng có thể làm đệ tử của Mạnh Phu Tử. Bởi vậy, thể loại “văn ngôn văn” có thể siêu việt thời gian và không gian để giúp chúng ta học tập trí tuệ của Thánh nhân. Cho nên, “văn ngôn văn” là ân huệ to lớn nhất mà Tổ tiên chúng ta để lại cho con cháu đời sau.

Khi tôi nghe đến đây thì trong lòng cảm thấy vô cùng hổ thẹn. Bởi môn ngữ văn tôi học không được tốt cho lắm. Hồi còn học cấp ba, khi đến tiết học “văn ngôn văn”, tôi thường ngủ gật. Sau khi nghe xong những điều này thì cảm thấy Tổ tiên chúng ta đã dùng tính mệnh của họ để thành toàn cho chúng ta. Vậy mà chúng ta lại vứt nó vào thùng rác. Ngay lúc đó tôi liền bật khóc. Đây là những giọt nước mắt của sự hổ thẹn. Vì bình thường chỉ cần có bạn bưng cho tôi một tách trà thì tôi đã cảm ơn họ rất nhiều rồi. Vậy mà Tổ tiên mấy nghìn năm trước của chúng ta đã dùng cả tính mệnh để thành toàn cho con cháu đời sau, thì chúng ta lại coi như không nhìn thấy.

Cho nên tôi lập tức có một ý nghĩ, nhất định phải học tập văn cổ, phải cố gắng học tập Kinh điển Thánh Hiền cho tốt. Sau đó khi bắt đầu mở những quyển Kinh sách như “Đệ Tử Quy”, mở “Luận Ngữ” ra thì tôi chợt cảm thấy hình như không còn khó như trước đây nữa. Hình như khoảng cách với Kinh sách giờ tôi cảm thấy gần hơn, xem được một câu thì hoan hỷ một câu. Vậy mà trước đây, sao mình lại nghĩ xa xôi như vậy? Chỉ toàn lo xa. Tại sao trước đây tôi cảm thấy rất khó? Tại sao sau khi chảy nước mắt thì tôi lại cảm thấy không khó nữa? Từ câu chuyện này chúng ta cũng có thể hiểu được sâu sắc câu giáo huấn được gọi là: “Nhất thiết pháp tùng tâm tưởng sinh” (tất cả các pháp đều do tâm tưởng sinh).

Quý vị thân mến! Chướng ngại ở trong tâm. Tự mình cảm thấy rất khó thì nó sẽ rất khó. Khi các vị buông bỏ chướng ngại ấy xuống thì nó không còn khó nữa. Cho nên khi chúng ta chân thật có được nhất niệm tâm sám hối, thì nhất niệm tâm đó sẽ chân thật làm hoàn thành sứ mệnh, để làm cho thích hợp với những Kinh điển này. Cho nên, nếu chúng ta có thể học tốt “văn ngôn văn”, thì nhất định chúng ta học tập sẽ càng tốt hơn nữa.

Phương pháp học “văn ngôn văn” cũng rất đơn giản. Thầy  Lý Bỉnh Nam đã từng nói, chỉ cần các vị học thuộc năm mươi (50) bài văn cổ thì các vị có thể xem được “văn ngôn văn”. Nếu như các vị thuộc một trăm (100) bài văn cổ thì các vị có thể viết được “văn ngôn văn”. Năm mươi (50) bài có khó lắm không? Không khó. “Đệ Tử Quy” không có nhiều bài như vậy. Đệ Tử Quy của chúng ta tính ra có sáu (6) bài: Nhập Hiếu, Xuất Đễ, Cẩn, Ngôn, Ái Chúng, Thân Nhân xem ra hơi ngắn cho nên ghép cùng với “Dư Lực Học Văn” là thành sáu (6) bài. Các vị đọc “Hiếu Kinh” có mười tám (18) chương. Thật ra đọc năm mươi (50) bài văn cổ không khó, một trăm (100) bài cũng không khó. Quan trọng nhất là phải bền lòng: “Khoan vi hạn, khẩn dụng công. Công phu đáo, trệ tắc thông(thời gian ít, cần chăm chỉ. Công phu đủ, đọc liền thông). Cho nên, một tuần chúng ta chỉ cần thuộc ba trăm (300) chữ là được, ba trăm (300) chữ không nhiều. “Đệ Tử Quy” có một nghìn không trăm tám mươi chữ (1.080 chữ). Nếu chúng ta một tuần thuộc ba trăm (300) chữ thì một năm sẽ thuộc hơn một vạn (10.000.000) chữ, lúc đó thực lực của chúng ta rất hùng hậu. Cho nên sự thành công chân thật là ở chỗ bền lòng. Các vị chỉ cần kiên trì một, hai tháng thì đảm bảo rằng các vị nhất định sẽ càng học càng vui sướng. Bởi vì ý nghĩa của “văn ngôn văn” rất sâu rộng. Mỗi lần các vị đọc thì chỗ hiểu của các vị sẽ không giống lúc trước. Tùy theo thực tiễn của chúng ta, tùy theo sự khai thông trí tuệ của chúng ta mà có thể lĩnh hội được càng sâu sắc hơn.

Ngày nay, chúng ta phải có tín nghĩa, phải có đạo nghĩa, phải truyền thừa trí tuệ Thánh Hiền cho đời sau. Muốn “truyền” thì đầu tiên phải “thừa”. Cho nên mới nói “Đoạn vãng khai lai”, không “thừa’ thì không có cách nào để “truyền”, không “thừa” thì sẽ “truyền” sai. Bởi vậy, chúng ta phải có sứ mệnh này, phải làm từ mình.

Có rất nhiều vị bạn hữu nói rằng: “Thầy Thái! Phải giống như thầy thì mới làm được”. Thật ra như vậy là có phân biệt. Lời giáo huấn trong “Đại Học” có nói: “Cổ chi dục minh minh đức ư thiên hạ giả, tiên trị kỳ quốc. Dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia. Dục tề kỳ gia giả, tiên tu kỳ thân. Dục tu kỳ thân giả, tiên chính kỳ tâm. Dục chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ý. Dục thành kỳ ý giả, tiên trí kỳ tri. Nhi trí tri tại cách vật”.Cổ nhân đã đem phương pháp “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” nói hết ra rồi, không quy định phải là ngành nghề nào mới làm được, mà ngành nghề nào, tuổi tác nào cũng có thể làm được.

Cho nên đầu tiên phải bắt tay làm từ “cách vật trí tri”. “Cách vật” tức là cách xa vật dục, cách xa thói quen xấu, lập tức đều có thể làm được. Khi dục vọng của chúng ta nhạt nhòa đi thì tâm trí thanh thản, tự nhiên sẽ có thành ý, tâm chánh. Bắt đầu tu sửa từ lời nói, hành vi của bản thân. Khi chúng ta đã sửa đúng rồi thì gia đình sẽ có sự chuyển đổi, môi trường làm việc sẽ có sự chuyển biến. Và như vậy thì các vị đã là học sinh tốt của Khổng Phu Tử, đã thành tấm gương tốt cho nền giáo dục Thánh Hiền của chúng ta. Cho nên, mỗi một người trong thời đương đại này đều có thể tận lực hoàn thành một phần trách nhiệm củamình.

Cũng từ trong năm mối quan hệ mà chúng ta đã tìm ra được vai trò của cuộc sống, định vị của cuộc đời. Khi chúng ta đã đứng vững thì tự nhiên sẽ có những bước đi vững chắc, từng bước, từng bước bước đi vững vàng trên con đường nhân sinh, bước đi một cách có giá trị.

 19. PHÀM XUẤT NGÔN, TÍN VI TIÊN. TRÁ DỮ VỌNG, HỀ KHẢ YÊN. THOẠI THUYẾT ĐA, BẤT NHƯ THIỂU. DUY KỲ THỊ, VẬT NỊCH XẢO. GIAN XẢO NGỮ, UẾ Ô TỪ. THỊ TỈNH KHÍ, THIẾT GIỚI CHI.

Phàm nói ra, tín trước tiên

Lời dối trá, sao nói được.

Nói nhiều lời, không bằng ít

Phải nói thật, chớ xảo nịnh.

Lời gian xảo, từ bẩn thỉu

Thói tầm thường, phải trừ bỏ.

 

************

19.1. Phàm xuất ngôn, tín vi tiên (Phàm nói ra, tín trước tiên)

Chúng ta nói lời thì cần phải giữ chữ “tín”. Đối với những lời mình đã nói ra tuyệt đối phải giữ ở trong lòng mà để đi thực hiện, để đi hoàn thành. Vào thời Xuân Thu có một người tên là Lý Trát, người nước Ngô. Có một lần Vua sai ông đi sứ nước Lỗ. Trên đường đi ông có đi qua nước Từ. Thời Xuân Thu của chúng ta có rất nhiều nước cho nên mới gọi là “Tám trăm chư hầu”. Trên đường đi ông cũng phải đi qua một số nước thì mới đến được nước Từ. Vua nước Từ mời ông ăn cơm, bày yến tiệc thết đãi ông. Khi ngồi xuống ăn cơm,Vua nước Từ không nhìn mặt ông mà chỉ nhìn vào thanh bảo kiếm ông đeo ở sau lưng. Bởi vì thanh bảo kiếm này rất uy nghiêm, cho nên Vua nước Từ đã không che nổi sự yêu thích của mình đối với thanh bảo kiếm.

Trong lòng Lý Trát nghĩ: “Vua thích thanh bảo kiếm của mình như vậy!”. Nhưng ngày xưa bảo kiếm thể hiện cho thân phận, đi sứ nước khác phải đeo theo kiếm là một lễ nghi tất yếu. Cho nên ngay lúc đó Lý Trát không thể tặng thanh bảo kiếm cho Vua được, mà phải đợi đến khi làm xong việc thì mới có thể tặng cho Vua. Trong lòng Lý Trát có ý định như vậy. Sau đó, khi hoàn thành sứ mạng đi sứ nước Lỗ rồi trở về đến nước Từ, ông đi bái phỏng nhà Vua và định đem thanh bảo kiếm ra để tặng.

Thật không may Vua nước Từ trong thời gian đó đã băng hà. Sau khi biết tin, Lý Trát liền đến trước mộ của Vua để cúng tế. Cúng tế xong, ông liền treo thanh kiếm trên cành cây cạnh mộ rồi ra về. Tùy tùng của ông liền gọi ông lại và nói: “Chủ nhân! Ngài làm vậy có quá không? Bởi vì từ trước tới giờ Ngài có đích thân hứa tặng thanh kiếm này cho Vua nước Từ đâu! Hơn nữa cho dù Ngài có hứa tặng cho Vua thì nay Vua cũng đã chết rồi”. Lý Trát liền nói với người tùy tùng rằng: “Trong lòng ta sớm đã hứa tặng cho Vua rồi. Làm sao có thể chỉ bởi Vua chết mà ta lại phản bội tấm lòng của ta!”. Ông đã nói ra một câu rất cảm động lòng người: “Thử ngô tâm dĩ hứa chi, khỉ dĩ tử bội ngô tâm tai” (Tại sao lại lấy lý do là đã chết để phản bội lại tấm lòng của ta, phản bội lời hứa của ta?).

Cho nên chữ “tín” của người thời xưa không chỉ ở trong lời nói, mà ngay cả trong ý nghĩ họ cũng không muốn phản bội  người khác và cũng không muốn phản bội lương tâm của mình. Cho nên chúng ta thấy người thời xưa như vậy thì cũng phải học tập theo tấm gương của họ.

Năm trước có nửa năm tôi đã ở nhà của cô giáo Dương. Có một buổi sáng cô giáo nói: “Hôm qua cô nằm mơ, mơ thấy đi đến một cái hầm rất sâu dưới đất. Cái hầm đó tối đen như mực. Kết quả khi đi vào thì có rất nhiều tủ sách, mở những tủ sách này ra thì thấy bên trên những quyển sách là một lớp bụi dày. Khi phủi hết bụi rồi xem thì là “Tứ Thư”,“Ngũ Kinh”. Sau khi mơ thấy như vậy cô chợt khởi lên một ý nghĩ: “Nhất định phải tận hết sức lực cả đời này của mình để kế thừa và phát triển văn hóa!”.

Cũng bởi ý nghĩ này và cô cũng không muốn phản bội tấm lòng này của mình, cho nên sau đó có cơ hội đến Hải Khẩu để phát triển, cô liền dẫn theo tôi cùng đi. Và cũng bởi lần đi Khúc Phụ ở Sơn Đông cô mới càng hiểu thấu được rằng văn hóa đã bị suy bại nghiêm trọng đến mức độ nào. Chính vì thế cô đã đi Bắc Kinh để sáng lập trang mạng: “Công ích văn hóa Đại Phương Quảng”. Bởi vậy, điều mà cô giữ chữ “tín” không phải là giấy trắng mực đen, cũng không phải là lời nói đối với bất kỳ ai, mà là với tấm lòng của mình, lời hứa với chính mình.

Những quyển sách này có rất nhiều bụi bẩn, cần phải nhờ vào những người làm con, làm cháu như chúng ta dùng tấm lòng chân thành đi phủi sạch. Không những phải phủi sạch mà còn phải mở nó ra để đọc. Tiếp nữa là thực hành theo, không thể chỉ có đọc mà không làm theo. Chúng ta hãy suy nghĩ lại một chút, khi xưa “văn ngôn văn” bị loại bỏ, nguyên nhân là không có người đọc “văn ngôn văn” hay sao? Có đúng như vậy không? Không đúng. Ngược lại, chính những người đọc nhiều thể loại “văn ngôn văn” lại khởi xướng loại bỏ “văn ngôn văn”. Cho nên đọc sách nhiều chưa chắc đã có tác dụng. Trong “Đệ Tử Quy” có nói: “Bất lực hành, đãn học văn, trưởng phù hoa, thành hà nhân” (Không gắng làm, chỉ học văn, chỉ bề ngoài, thành người nào). Điều có được của những vị thạc sỹ, bác học tiếng Trung này chỉ là phù hoa, phù phiếm. Điều họ có được là danh lợi. Khi họ không thực hành thì họ sẽ cảm thấy những đạo lý đó là trống rỗng và giả dối. Lâu dần lời nói và hành vi càng ngày càng xa nhau. Và khi họ đi dạy văn hóa Thánh Hiền thì trong tâm lý của người được học sẽ có cảm nhận là “nói một đằng làm một nẻo”. Như vậy không phải là kế thừa và phát triển văn hóa mà là hủy báng văn hóa.

Cho nên thể loại “văn ngôn văn” chân thật đã có một tai kiếp như vậy. Vấn đề không phải là ở những người khởi xướng loại bỏ “văn ngôn văn”. Những người loại bỏ “văn ngôn văn” chỉ là dây dẫn lửa. Nguyên nhân chính ở đâu? Chúng ta cần phải tìm ra nguyên nhân chính, không nên đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. Nguyên nhân chính là bởi lời nói và hành động của những người học giả không giống nhau. Nếu như những người học giả này học tập và thực hành theo “Đại Học”, “Trung Dung”, “Đệ Tử Quy”, thì những người tiếp xúc với họ liệu có hủy bỏ văn hóa này không? Không bao giờ. Thậm chí họ sẽ noi theo gương các vị. Cho nên chúng ta hãy nhìn xem, mấy nghìn năm đến nay, những người phụng hành theo giáo huấn của Thánh Hiền đều được đông đảo quần chúng ủng hộ và yêu mến.

Giống như ở Hải Khẩu có một vị quan nổi tiếng tên là Hải Thụy vào thời nhà Minh. Chúng ta cũng có nghe qua câu chuyện “Hải Thụy từ quan”. Đến một nơi nào đó tôi cũng có thói quen đi thăm quan bái phỏng những danh nhân của bản địa, những danh nhân có lưu tên trong sử xanh. Bởi vì đều có những trang sử mà họ đã dùng tâm huyết để viết lên, đều có những cống hiến bằng tâm huyết của họ đối với đất nước, xã hội. Chúng ta đều có thể “kiến nhân thiện, tức tư tề(Thấy người tốt, nên sửa mình), thấy người hiền thì mình cũng muốn noi theo, và cũng có thể hiểu được sự ảnh hưởng của họ để nơi này có sự thay đổi một cách bất tri, bất giác. Cho nên khi vừa bước vào khu mộ của Hải Thụy, nhìn thấy hai hàng chữ tôi liền bị chấn động. Hải Thụy đã nói rằng: “Phấn thân toái cốt toàn bất cố, chỉ lưu thanh bạch tại nhân gian” (Thân nát xương tan không quan tâm, chỉ cần lưu lại sự thanh bạch giữa nhân gian). Từ hai câu nói này của ông có thể cảm nhận được đức hạnh ở nơi ông rất là thanh liêm.

Cho nên khi tôi thấy được tiết khí của Hải Thụy như vậy, và lại xem lời giới thiệu về cuộc đời của ông, xem xong thì vô cùng cảm động. Bởi chỉ cần Hải Thụy đến một nơi nào đó làm quan, khi ông chưa tới nơi thì tất cả những tham quan ô lại và cả ác bá ở nơi đó đã mau chóng rủ nhau trốn hết. Bởi vì chúng biết được rằng Hải Thụy rất là cương chính không dua nịnh. Cho nên chỉ cần ông đến nơi nào thì dân chúng ở nơi đó đều nơi nơi vui mừng. Khi một người chân thật thực hành theo giáo huấn của Thánh Hiền thì có bị phản đối không? Đó là điều không thể. Hải Thụy lần cuối cùng nhậm chức ở Nam Kinh và sau đó qua đời. Sau khi qua đời, vì dân tộc chúng ta rất xem trọng vấn đề “lá rụng về cội”, cho nên phải đem Hải Thụy từ Nam Kinh chuyển về Hải Nam. Khi linh cữu được chuyển đi từ thành Nam Kinh thì tất cả dân chúng đều mặc áo tang như là để tang cha mẹ, đau buồn giống như là cha mẹ họ qua đời vậy.

Từ điều này chúng ta thấy được rằng người đắc đạo sẽ có nhiều người ủng hộ giúp đỡ, người chân thật tận lực đi thực hành chánh đạo thì nhất định sẽ được lòng dân. Tại sao thể “văn ngôn văn” của chúng ta lại bị loại bỏ? Không nên trách người khác. Trách tất cả những người đọc sách Thánh Hiền như chúng ta mà không thực hành cho tốt. Chỉ cần chúng ta bây giờ học một câu làm theo một câu, tin rằng nhất định sẽ thay đổi được sự ngộ nhận đối với văn hóa của người thế gian. Hơn nữa chúng ta tiến thêm một bước là làm cho đầy đủ chu đáo và học tập noi theo gương. Cho nên, khi trong lòng chúng ta có tâm nguyện vì gia đình, vì xã hội, vì Tổ tiên của chúng ta thì chúng ta phải luôn luôn giữ chữ “tín” đối với lời hứa của mình.

Giữ chữ “tín” thì phải không lừa già, dối trẻ. Trong lời nói chúng ta cũng không được chọn lựa đối tượng. Không phải chỉ khi làm ăn buôn bán mới không lừa già, dối trẻ, mà phải đối với tất cả mọi người, chỉ cần nói lời thì phải thực hiện. Bởi vậy chúng ta phải suy nghĩ cho kỹ trước khi hứa với người khác. Cho nên mới nói: “Sự phi nghi, vật khinh nặc, cẩu khinh nặc, tiến thoái thố(Việc không tốt, chớ dễ nhận. Nếu dễ nhận, tiến lui sai). Chúng ta phải suy nghĩ cho kỹ, khi hứa rồi thì không được hối hận.

Vào thời nhà Hán có một vị Thái Thú tên là Quách Cấp. Trên đường đi ngang qua khu vực ông quản lý, ông đi đến một nơi có rất nhiều trẻ nhỏ, mấy chục đứa trẻ vây lại chào hỏi ông. Một đứa bé rất ngây thơ nói với ông rằng: “Thưa Thái Thú! Lần sau khi nào thì Ngài lại đến chỗ chúng cháu ạ?”. Quách Cấp đối với bọn trẻ cũng rất cung kính. Lời nói của đứa trẻ ông cũng không thờ ơ. Ông bắt đầu tính có thể mấy tháng sau vào ngày nào đó ông sẽ lại đi tuần qua đây. Cho nên ông liền nói cái ngày đó cho bọn trẻ nghe. Kết quả là bọn trẻ vui vẻ tiễn ông lên đường rồi giải tán.

Nhưng kết quả sau đó, khi đến ngày ông đi tuần ở nơi đó thì lại sớm hơn một ngày so với ngày ông đã nói với bọn trẻ trước đây. Người tùy tùng của ông muốn đi nhưng ông liền nói: “Không được! Ta đã có hẹn trước với bọn trẻ. Cho nên hôm nay ta hãy nghỉ đêm ở bên ngoài, trong cái đình hoang này”. Sau đó đợi đúng ngày hẹn ước thì Quách Cấp mới tiến vào. Và quả nhiên bọn trẻ cũng đã ở đó để đợi ông. Cho nên Hán Quang Vũ Đế rất tôn kính đối với Quách Cấp, còn khen ngợi ông là “Thiện lương thái thú tín chi chí”. Chữ “tín” của ông đã đạt đến cực điểm, không còn một thiếu sót nào. Quách Cấp cuối cùng sống được tám mươi sáu tuổi, không bệnh mà mất. Cho nên chữ “tín” của chúng ta cũng không phân biệt tuổi tác, thậm chí không phân biệt già trẻ, giàu nghèo. Đối với bất kỳ người của ngành nghề nào chúng ta cũng không được khinh khi, đều phải giữ lời hứa của mình.

 

************

19.2. Trá dữ vọng, hề khả yên (Lời dối trá, sao nói được)

Nếu như chúng ta không giữ chữ “tín”, lại còn tìm một số lý do để biện bạch, “trá” có nghĩa là lừa dối, “vọng” là dùng lời nói ngon ngọt để che đậy sự thất tín của mình, vậy thì có thể tạo thành “thường yểm sức, tăng nhất cô(Nếu che giấu, lỗi chồng thêm). Đến cuối cùng thì người ta cũng hiểu được rằng các vị không muốn chịu trách nhiệm đối với sự thất tín của mình. Như vậy thanh danh của các vị càng ngày càng kém đi. Đương nhiên trời có lúc mưa, lúc nắng, người cũng có lúc có họa, lúc được phước. Rất có thể các vị thật sự muốn giữ chữ “tín”, nhưng vừa vặn cuộc sống lại xuất hiện một số tình huống làm cho các vị không thể thực hiện được lời hứa. Lúc này phải làm sao? Việc thế gian chỉ cần một chữ là có thể giải quyết được, đó là chữ “thành”. Chúng ta thành thật công bố, bởi khi họ thực sự hiểu được tình trạng của các vị, và lại hiểu được  thành ý của các vị thì họ cũng dễ dàng nhượng bộ một bước. Bởi trong tình thế như vậy dù có bắt ép các vị như thế nào thì cũng vô dụng. Nhưng nếu như các vị tiếp tục che dấu, thì họ sẽ càng ngày càng tức giận, càng ngày càng không vui, đến lúc đó thì rất khó để giải quyết. Cho nên khi đã hứa với người khác thì chúng ta không được kéo dài thời gian, càng kéo dài thì càng khó giải quyết.

Tôi có một người bạn, người thân của anh này mắc rất nhiều nợ. Anh ấy cũng rất có trách nhiệm để hoàn trả. Tự anh ấy cũng rất là căng thẳng, lo sợ đối phương có thái độ không tốt. Sau đó người bạn của anh ấy đã góp ý với anh rằng: “Anh cứ thẳng thắn nói với họ rằng tôi là như vậy, bây giờ các anh có làm gì đi nữa, ví dụ như có trả thù đi nữa cũng không có ích lợi gì đối với các anh, càng không có lợi gì đối với tôi. Bây giờ tôi cũng rất thành khẩn đến trả tiền, một tháng tôi trả các anh khoảng bao nhiêu đó”. Anh ấy đã nói thẳng với họ như vậy và sau đó thì kết quả cũng rất thuận lợi. Cho nên phương pháp đối nhân, xử thế của thế gian chúng ta không nên nghĩ nó quá phức tạp, nên dùng tấm lòng chân thành để đối xử.

 

************

19.3. Thoại thuyết đa, bất như thiểu. Duy kỳ thị, vật nịnh xảo (Nói nhiều lời, không bằng ít. Phải nói thật, chớ xảo nịnh)

Bởi vậy mới nói: “Nói nhiều quá thì sẽ lỡ lời”. Nói thì tuyệt đối không nên thao thao bất tuyệt bởi vì khi các vị thao thao bất tuyệt, có những lời nói chưa suy nghĩ kỹ thì có thể đã nói ra. Kết quả khi nói ra thì không lấy lại được nữa. Cho nên Khổng Phu Tử mới nói rằng: “Tam tư nhi hậu hành, tam tư nhi hậu ngôn”, lời nói thì phải cẩn thận. Trong “Kinh Dịch” cũng có một câu nói: “Cát nhân chi từ quả, táo nhân chi từ chúng” (Người hiền lành thì lời nói ít, người nóng vội thì sẽ nói nhiều).

Khi các vị nhìn thấy một người thao thao bất tuyệt thì tâm của anh ấy thường không yên và rất nóng vội, không có cảm giác yên ổn. Khi một người có tâm cảnh như vậy thì dễ nói lỡ lời, rất dễ đắc tội với người khác. Như vậy là tâm của người đó bị loạn. Tục ngữ có câu nói: “Họa bất đơn hành”. Đó đều là vì tâm không có chủ tể thì mới hết lần này đến lần khác phạm sai lầm, cho nên phải tĩnh tâm xuống. Khi nói ít thì tâm ôn hòa hơn, khi tâm của một người ôn hòa thì đối với hoàn cảnh, những sự việc phát sinh họ cũng có thể quan sát một cách rõ ràng. Khi biết quán chiếu thì họ không dễ gì mà phạm phải sai lầm.

Quý vị thân mến! Sau khi nghe xong những lời này khi về nhà các vị cũng đừng có “không nói một câu”. Khi cần nói thì phải nói. Giống như tôi từ nhỏ đã rất có nhiệt tâm, nhưng ở đằng sau lại còn thêm hai chữ “thái quá”. Cho nên khi thấy một người không chăm chỉ học hành, tôi liền đứng bên cạnh nói rất nhiều với anh ấy. Anh ấy nghe mà đầu cũng muốn ngất xỉu luôn. Chúng ta lại không có độ nhạy cảm để biết ngừng đúng lúc.

Khi học cấp ba, có rất nhiều bạn học đều có bạn gái. Riêng tôi lại không có bạn gái. Tại sao vậy? Bởi những người bạn đó đều không thích nói nhiều, mặt mũi lại còn lạnh tanh, rất lạnh, hình như như vậy lại dễ kiếm được bạn gái. Cho nên tôi cũng bắt đầu trở lên lạnh tanh không nói năng gì, cả ngày cũng không nói một câu. Tôi muốn kiên trì một thời gian, nhưng sau khi kiên trì được một hôm thì tôi nghĩ: “Thôi! Thôi vậy! Lại làm  chính mình thì tốt hơn”.

Khi người khác thật sự cần chúng ta thì chúng ta nhất định phải tận tâm, tận lực hướng dẫn cho họ, khuyên can họ. Nhưng khi thời cơ chưa đến thì chân thật là chúng ta không cần phải nói quá nhiều, bởi nói nhiều có thể sẽ làm cho người ta phiền muộn. Cho nên đây là biết tiến thoái. Duyên phận đã chín muồi hay chưa, điều này cũng không thể dùng lời để nói cho rõ ràng được mà các vị phải tự mình đi tích lũy kinh nghiệm. Có thể dùng một phương pháp của Mạnh Phu Tử, được gọi là “quán kỳ mâu tử” (quan sát ánh mắt).

Ví dụ các vị nói với anh ấy rằng “Đệ Tử Quy” rất quan trọng, rồi đưa ra mấy câu Kinh văn là “trí quan phục, hữu định vị” (nón quần áo, để cố định) để làm thí dụ. Câu này có liên quan trực tiếp đối với năng lực làm việc của con cái anh. Các vị nói đến đó thì mắt anh ấy sáng lên. Khi mắt anh ấy sáng lên các vị không thể nói: “Tốt rồi! Hôm nay chỉ nói năm phút thôi, tôi phải về đây”. Như vậy có được không? Như vậy là không tùy duyên.

Khi duyên phận chín muồi thì chúng ta thuận theo chiều hướng để làm. Ngoài ra, khi các vị nói chuyện với một người, mới nói có năm phút đã thấy mắt của anh ấy đờ đẫn thì các vị có nên tiếp tục nói thêm hai tiếng nữa không? Có nên không? Như vậy là cố níu kéo cái duyên. Cho nên luôn luôn quan sát trạng thái của duyên phận. Duyên phận là trạng thái động chứ không phải là trạng thái tĩnh. Nếu như chúng ta học Kinh văn mà học để trở thành trạng thái tĩnh thì chúng ta đã học một cách sai lầm rồi.

Thoại thuyết đa, bất như thiểu” (Nói nhiều lời, không bằng ít), nhưng khi đã nói thì nhất định phải nói điều tốt đẹp, nói điều có lợi cho người khác. Bởi vậy mới nói: “Nói những lời có ích, nói những lời mềm mỏng để cho người ta nghe mà cảm thấy thoải mái”. Phải nói lời thành thật, nói lời trí tuệ để thành toàn cho người.

Có một lần tôi nhận được điện thoại của một người bạn. Khi tôi nhận điện thoại thì nghe thấy tiếng khóc hu hu, nghe cô ấy nói thì chồng cô ấy có rất nhiều lỗi lầm. Cô lần lượt kể ra hết hàng loạt tội trạng của chồng. Đợi cho cô ấy nói xong, tâm tình cũng hòa hoãn hơn một chút, tôi mới nói với cô ấy: “Bây giờ cô đã có con cái rồi, phải làm sao chăm sóc cho tốt gia đình. Trong cuộc sống gia đình, cô phải có một thái độ là những người khác làm gì thì đó là chuyện của họ. Cô phải vun vào chứ! Họ đúng hay không đúng là chuyện của họ. Mình có đúng hay không mới là điều quan trọng. Cho nên trước tiên không nên xem chồng mình có lỗi lầm gì, mà trước tiên phải xét lại bản thân xem mình làm vợ đã tốt chưa? Mình làm mẹ đã tốt chưa? Mình làm dâu đã tận sức chưa? Nếu như mình chưa làm tốt mà lại đi nói người khác thì mình cũng giống như người ta cả thôi. Vậy chúng ta có tư cách gì để mà tức giận, để mắng nhiếc họ? Không phải chúng ta cũng như họ hay sao? Vậy thì mắng họ không phải là mắng mình sao? Có đúng vậy không? Mình mắng họ bởi vì họ không tận hết trách nhiệm. Nhưng chúng ta cũng chưa tận hết trách nhiệm thì sao?

Cho nên một người mà có thể quay lại để kiểm điểm lại mình trước thì tâm của người đó sẽ bình tĩnh rất nhiều. Và cũng nhờ sự bình tĩnh đó, nhờ có sự tận hết trách nhiệm đó mà từ từ họ sẽ làm cho người chồng khởi lên tâm hổ thẹn. Cho nên con người thời nay luôn luôn có rất nhiều tình trạng gia đình càng ngày càng trở lên phức tạp, càng ngày càng nghiêm trọng, luôn luôn đều gặp phải tình trạng làm việc theo cảm tính: “Anh ta như vậy thì tôi cũng như thế”, đều là dùng cách trả thù. Kết quả là gia đình đổ vỡ. Con cái cũng bị vạ lây. Cho nên chúng ta phải dùng lý trí để đối phó với mọi việc.

Sau khi tôi nói xong thì người bạn này của tôi liền nói: “Thầy Thái! Trước khi gọi điện cho thầy, tôi cũng đã gọi cho mấy người bạn nữ của tôi. Những đáp án của họ đều không giống như của thầy. Họ đều nói: “Vào thời kỳ không bình thường thì phải dùng thủ đoạn không bình thường”. Họ cũng không hiểu được rằng thời xưa chúng ta có một câu nói cổ: “Ninh sách thập tọa kiều, bất phá nhất trang hôn” (thà phá mười cây cầu còn hơn phá một cuộc hôn nhân). Cầu gãy rồi còn có thể xây lại, nếu như hôn nhân đổ vỡ rồi, gương đã vỡ thì rất khó lành lại, gương đã vỡ thì rất khó gắn lại như xưa. Cho nên lời nói phải thận trọng.

Nếu như lúc đó chúng ta lại góp ý với cô ấy rằng: “Loại đàn ông như vậy thì chỉ còn cách ly hôn với anh ta!”. Khi đó cô ấy cũng làm việc bằng cảm tính và thế là ly hôn với chồng. Sau khi ly hôn xong chính cô lại cảm thấy ân hận, cho nên thường xuyên gọi điện thoại đến trách móc chúng ta: “Cũng tại anh hại ra nông nỗi này!”. Các vị nghe vậy cũng sẽ cảm thấy rất khó chịu. Rồi chúng ta lại gặp con cái của cô ấy, con cái của cô ấy cũng nói: “Cũng tại cô hại ra như vậy!”. Vậy thì hàng đêm các vị ngủ có khi cũng không được ngon giấc.

Cho nên nói chuyện với người khác chúng ta nhất định phải có một nguyên tắc. Các vị có nguyên tắc như vậy thì bạn bè sẽ xem các vị như tri kỷ. Nguyên tắc gì vậy? Chỉ cần là chuyện trong gia đình của họ thì nhất định phải để cho họ tự kiểm điểm lại chính mình. Khi các vị hướng dẫn họ tìm ra vấn đề ở tại chính bản thân của họ thì mọi chuyện mới chân thật được hóa giải. Mà luôn luôn trong khi tự kiểm điểm lại mình thì tâm tình của họ mới có thể hòa hoãn xuống. Bởi vậy cho dù họ có làm theo lời của các vị hay không, nếu như họ không làm theo lời của các vị, một thời gian sau họ cũng sẽ nói lời của các vị nói là đúng. Còn nếu như họ làm theo lời các vị, thì họ sẽ đến trước mặt các vị mà nói lời cảm ơn vì đã khuyên họ không hành động theo cảm tính. Thậm chí vợ của họ hay chồng của họ cũng đến để cảm ơn các vị. Đều có khả năng như vậy.

Cho nên chúng ta phải nắm lấy nguyên tắc này, bởi con người với con người, khi trò chuyện thì rất dễ bị tâm tình cảm nhiễm, bị ảnh hưởng của tâm tình. Nhưng phải nhớ cho kỹ: “Không thể nói lời phiến diện! Không thể nghe lời từ một phía!”. Các vị có tin rằng khi vợ chồng cãi nhau thì lời nói hầu như hoàn toàn khác nhau không? Vậy thì ai đúng? Nhất định phải có một chân tướng của sự thật. Con người thì luôn luôn đứng ở cương vị của mình để nhìn nhận vấn đề. Cho nên các vị không thể nghe người chồng nói như vậy, các vị bị lời nói, ngôn ngữ của người chồng làm ảnh hưởng và liền có cách nhìn không tốt đối với vợ anh ấy. Như vậy là mất đi sự khách quan.

Cho nên các vị nghe thì cứ nghe, nhưng cũng phải ở giữa mà phân biệt lời nào là đúng, lời nào là sai. Sau đó trong lúc nói chuyện, các vị phải nói để họ hiểu rằng: “Vợ anh như vậy là kết quả. Vậy nguyên nhân là ở đâu?”. Câu nói này có ích không? Như vậy anh ấy mới bình tĩnh trở lại. Hôm nay vợ anh ta nổi giận có thể chỉ là ngòi nổ. Sự uất ức đã tích lũy bao lâu rồi mà anh ấy không biết. Anh ấy chỉ biết ở đó mà tức bực cả ngày: “Tại sao cô ta lại có thể mắng mình như vậy?”. Anh ấy không biết đằng sau sự tức bực này đã ngưng tụ bao nhiêu là sức mạnh. Cho nên các vị phải hướng dẫn để anh ấy hiểu nguyên nhân là do đâu thì anh ấy mới biết đặt mình vào vị trí của đối phương để suy nghĩ. Cho nên “dĩ hòa vi quý, nói chuyện với người khác tuyệt đối không được tạo thêm sự chia rẽ, phân tranh.

Sự thực là như vậy thì chúng ta cũng trực tiếp nói thẳng ra, tuyệt đối không được viện cớ, tuyệt đối không được che đậy lỗi lầm. Ví dụ như chúng ta đã hứa với cha, hứa với mẹ là mua cái gì đó, kết quả khi vừa bước chân vào nhà thì mẹ hỏi: “Nước tương đâu?”. Chúng ta nhất định lập tức phải nhận lỗi: “Xin lỗi mẹ! Con sai rồi”. Câu nói: “Con sai rồi” có dễ nói không? Rất dễ nói. Các vị vì lâu không nói mới thành ra khó nói. Cho nên chỉ cần chúng ta lỡ phạm phải cái lỗi không giữ được chữ “tín” thì nhất định phải xin lỗi ngay, thì đối phương sẽ cảm thấy có thể tiếp nhận được. Nếu như lúc này các vị lại nói: “Gần đây con rất bận, lại bận cái này, bận cái kia”, còn đi giải thích một loạt, càng giải thích thì trong lòng người thân càng cảm thấy khó chịu. Cho nên mới nói “duy kỳ thị, vật nịnh xảo(Phải nói thật, chớ xảo nịnh).

 

************

19.4. Gian xảo ngữ, uế ô từ. Thị tỉnh khí, thiết giới chi (Lời gian xảo, từ bẩn thỉu. Thói tầm thường, phải trừ bỏ)

Giữa con người với con người, giao lưu với nhau nhiều nhất là ngôn ngữ. Bởi vậy nếu như lời ăn, tiếng nói rất nhã nhặn, vậy thì vô hình trung trong lúc nói chuyện đều có thể nâng cao khí chất hàm dưỡng của một người.

Quý vị thân mến! Các vị có cảm nhận được không? Khí chất mấy ngày hôm nay của chúng ta đặc biệt tốt. Cho nên từ trường rất quan trọng, hoàn cảnh cũng rất quan trọng. Chúng ta phải làm cho không khí trong lời ăn, tiếng nói của gia đình trở nên như thế nào, bản thân mình phải rõ ràng. Khi chúng ta là phụ huynh, là cha mẹ, thậm chí là lãnh đạo của một xí nghiệp thì lời ăn, tiếng nói của các vị phải thong thả, không gấp vội. Trong lời nói của các vị đều là cổ vũ người khác, khen ngợi người khác, có ích cho người khác, cho người khác có thêm trí tuệ. Vậy thì tin rằng gia đình của các vị, xí nghiệp, đoàn thể của các vị nhất định sẽ có được hiệu quả: “Trên làm dưới noi theo”.

Cho nên chúng ta cũng không nên lo lắng thái quá. Bên ngoài có rất nhiều sự ô nhiễm, chỉ cần các vị giữ cho vững đại bản doanh thì tình hình không đến nỗi tệ lắm. Vậy thì sau này ở nhà cũng có thể bật đĩa của cô giáo Dương giảng về “Đệ Tử Quy”, bật đĩa giảng về “Đệ Tử Quy” của những Thánh nhân, và như vậy sẽ làm thay đổi khí chất trong nhà bạn một cách vô hình.

[29] Bắt đầu Tập 29

HẾT TẬP 29. Xin đọc tiếp Tập 30 “Đệ tử quy” giảng giải – Con đường đạt đến nhân sinh hạnh phúc