QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 GIẢNG GIẢI – TẬP 14

Chủ giảng: Thầy giáo, Tiến sĩ Thái Lễ Húc
Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Viên Đạt Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ
Thuyết minh: Hạnh Quang
Download toàn bộ MP3



Quần thư trị yếu 360 – Tập 14

Khổng Tử viết: Ngô chi ư nhân, thùy hủy thùy dự, như hữu sở dự, tất hữu sở thí, dĩ thánh nhân chi đức, do thượng như thử, huống dung dung chi đồ, nhi khinh hủy dự tai”. Đoạn này nói đến Khổng Tử ngài đối nhân xử thế, chung sống với mọi người, khen ngợi ai đó, hủy báng ai đó. Mọi người chú ý xem phần dưới: “Như hữu sở dự”. Khổng Tử không có nói “hủy”, Khổng Tử chỉ có khen ngợi người không có hủy báng người, xử sự có một thái độ là “ẩn ác dương thiện”. Nhà đạo nói: “Thưởng thiện phạt ác”, nhà Phật thì nói “đoạn ác tu thiện”, đều là những tinh thần này. Phật Đà dạy dỗ đệ tử; người này sai rồi, không chịu nghe lời khuyên của bạn, cứ “mặc tấn” là được, không nên phô trương cái ác của họ. “Mặc tấn” chính là không nên nói, hãy trông đợi vào việc tự mình làm tốt hơn để cảm động họ. Bởi vì việc phô trương cái ác giữa con người và giữa đoàn thể sẽ không ngừng thị phi. Vả lại, sau khi dương ác lên mà người đưng sự biết được có thể nỗi hận thù đó cả đời cũng không buông được, sẽ kết oán thù sâu nặng với người ta, gọi là nói người sau lưng. “Thụ hám giả thường nhược khắc cốt”, nghĩa là khi bạn nói sau lưng người ta, khi người ta biết được thì họ cảm thấy đau lòng đến khắc cốt ghi tâm. Thói quen này nhất định phải thay đổi, không thể nào nói chuyện thị phi của người khác sau lưng họ.

Vừa rồi có chút lạc đề, vào lúc này càng không nên căng thẳng, phải bình tĩnh trở lại. Câu cách ngôn này là nói: “Diện du chi từ, hữu thức giả vị tất duyệt tâm, bối hậu chi nghị, thụ hám giả thường nhược khắc cốt”. Việc này có lẽ cũng đã nói qua với các vị rồi. “Diện du chi từ” chính là ở trước mặt người ta thì tán dương tâng bốc, người có hiểu biết thì chưa chắc là họ sẽ vui mừng, họ có thể vừa nghe đã cảm nhận được bạn đang nịnh nọt tâng bốc họ. Nhưng mà nói sau lưng người ta, sau đó người bị nói sau lưng này một ngày nào đó nghe được họ sẽ rất chấn động, họ có thể sẽ ôm hận cả đời.

“Khẩu vi họa phước chi môn”. Ở đây chúng ta cảm thấy được sự tu dưỡng của Khổng Tử. Mà trong số học trò của Khổng Tử, tài ăn nói của ai là hay nhất? Là Tử Cống. Cho nên “Luận Ngữ” chính là sự ghi chép lại tất cả cuộc sống của Khổng Tử và các học trò cùng với con người ở thời đại đó, không phải chỉ là kiến thức chỉ để đọc mà thôi, mà đều là những triết lý nhân sinh linh hoạt sống động và sâu sắc. Tử Cống có tài ăn nói tốt nhất. Có một hôm, “Tử Cống phương nhân”, nghĩa là Tử Cống nói điều không đúng của người ta, Khổng Tử đã nắm lấy cơ hội này mà nói “tứ dã, hiền hồ tai”, nghĩa là “Đoan Mục Tứ, con là người có đức hạnh tài năng phải không, còn ở đó phê bình người ta. “Phu ngã tắc bất hạ”, nghĩa là ta đây đối trị với phiền não tập khí mà thời gian dụng công còn không đủ, còn con thì lại có nhiều thời gian đến như vậy để đi phê bình người khác hay sao. Đây là nhắc nhở đối với người học trò có tài ăn nói nhất, thậm chí là sợ Tử Cống sẽ gây ra họa hoạn. “Như hữu sở dự”, nghĩa là Khổng Tử đều chỉ tán thán người khác. Nhưng mà các vị xem khi nào thì Ngài mới mắng người khác? Khi Khổng Tử mắng thì đều là muốn đánh động người trong thiên hạ. Phải hiểu rõ ràng, phải trái đối với kỷ cương. Khi Khổng Tử phê bình thì không phải là đối lập xung đột với người khác, mà là để cho người trong thiên hạ hiểu được việc thiện – ác, phải – quấy.

Khổng Tử viết quyển “Xuân Thu”, mỗi một chữ đều là chỉ ra thị phi thiện ác, thậm chí là khiến cho những loạn thần tặc tử khi đó khiếp sợ kinh hồn, vì sao vậy? Bởi vì một khi mà Khổng Tử viết một điều gì đó thì nó sẽ lưu lại nghìn đời, cho nên nói “Khổng Tử viết Xuân Thu loạn thần tặc tử sợ”. Khổng Tử không mắng người, khi đáng phải mắng thì Ngài cũng khai duyên. Mà việc đó là chân thật muốn chấn hưng toàn bộ cương thường trong thiên hạ. Nói như vậy mọi người chưa chắc hiểu được hết, chúng ta ôn lại một chút.

Trong “Tả Truyện” vừa mở đầu, đoạn văn chương đầu tiên “Trịnh Bá khắc đoạn ư Yên”. Trịnh Trang Công vì sao lại gọi là “Trịnh Bá”? Bởi vì ông làm anh không làm được tốt, không có dạy dỗ em út cho tốt. “Khắc Đoạn”; “Đoạn” là chỉ em trai của Trịnh Trang Công, ông cũng là một người em trai của hoàng đế, cũng là rất có thân phận. Vì sao gọi ông là “đoạn”? Bởi vì ông đã không tận hết bổn phận của chính mình, chức vị cao như vậy mà không làm tấm gương tốt cho thiên hạ xem, còn anh em đánh nhau. Dùng chữ “khắc” này, nghĩa là các nước thảo phạt lẫn nhau gọi là “khắc”; anh em mà dùng chữ “khắc” này là nhắc nhở người trong thiên hạ không nên làm trò cười cho người khác.

Cho nên các vị xem “Xuân Thu” của Khổng Tử, trọng lượng của mỗi một chữ đều là tuyên truyền giác ngộ. Khổng Phu Tử ở đây đã nhắc nhở “đạo nhân thiện”. “Như hữu sở dự, tất hữu sở thí”, khen ngợi người ta cũng rất cẩn thận, nhất định là người đó chân thật có đức hạnh thì mới khen ngợi họ. Việc này rất quan trọng, danh xứng với thực. Giả như người này đức hạnh không có tốt đến như vậy, người ở bên cạnh đều quá tán dương họ, dần dần họ sẽ đánh giá sai bản thân mình, sẽ cảm thấy mình rất là giỏi. Vì thế, người trẻ tuổi hầu hết đều không chống đỡ nổi sự khen ngợi. Khen ngợi nhiều quá rồi nhất định sẽ có một chút say đắm trong đó, sẽ có một chút lâng lâng bay bổng, gọi là “tám gió thổi sẽ động”, không phải là thổi không động. Người trẻ tuổi rốt cuộc nền tảng định tánh của họ vẫn chưa vững chắc.

Mọi người hiện tại hãy chú ý xem, hiện tại trẻ con từ nhỏ đã được khen ngợi hết sức quá mức, cuối cùng không thể nói được nữa. Quen nghe những lời lọt tai rồi đột nhiên sẽ nghe không lọt tai những câu phê bình nữa thì môi sẽ nhếch lên rất cao, không để ý bạn nữa. Chúng ta tự mình suy nghĩ lại cuộc sống này. Tôi trong cả quá trình trưởng thành hai mươi mấy năm, cha tôi không có một câu nào khen ngợi tôi trực tiếp cả. Kỳ lạ thật! Không phải cũng sống được ổn thỏa cả hay sao, làm gì có chuyện nhất định phải khen thì mới có thể sống được hay sao. Kỳ thật, khi cha mẹ có đức hạnh thì con cái sẽ cảm nhận được cái đức phong đó, chúng sẽ làm theo cha mẹ, chúng sẽ có phương hướng mục tiêu của cuộc đời, chứ không phải việc khen ngợi mới là động lực. Nếu như khen ngợi trở thành động lực thì đó là danh văn lợi dưỡng, không có ai khen ngợi thì họ sẽ không làm. Cho nên: “Giáo dã giả, trưởng thiện nhi cầu kỳ thất”. Chúng ta dùng phương pháp đó để ảnh hưởng đối với tâm cảnh của họ, chúng ta phải rõ ràng. Đương nhiên phương pháp này cũng không nhất định, phải dạy theo trình độ. Con người này tính cách đã rất thiếu lòng tin rồi, bạn đương nhiên phải khuyến khích chúng. Ví dụ người này rất dễ dàng ngạo mạn, bạn đừng khen họ, vừa khen thì đã bay bổng. Cho nên thật sự việc dạy dỗ một đứa trẻ không dễ dàng, phải thật dụng tâm để quan sát. Khổng Tử cũng là đã xác định rồi, đều đã quan sát qua, thử nghiệm qua rồi mới khen ngợi người đó. Đây là có trách nhiệm với thiên hạ. Bởi vì những gì mà Khổng Tử nói thì người ta đều tin, nếu như ngài khen sai người có thể sẽ khiến cho người khác phán đoán sai. Bao gồm việc những người đương sự phải danh xứng với thực, mới không có tạo thành chướng ngại cho đối phương. Danh xứng với thực, đối phương có thể sẽ thay đổi.

“Khổng Tử thượng thư như thử”, hà huống chúng ta không có trí huệ và năng lực phán đoán như Khổng Tử mà lại đi nói ra những lời khinh mạn, hủy báng, hay là tán thán. Đó là không thỏa đáng. Cho nên ngôn ngữ, thái độ “cẩn ngôn” rất là quan trọng. “Tích phục ba tướng quân Mã Viện”, đoạn văn chương này chúng ta cũng đã cùng nhau học tập qua rồi.

“Giới huynh tử nghiêm đôn thư”, ông khuyên bảo cháu của ông. Mà Mã Viện thì vẫn còn đang cầm binh, trong lúc bận rộn như vậy lại viết về nhà một bức thư. Chúng ta nhìn thấy sự hành trì của người xưa, họ dù bận rộn nhường nào, mệt mỏi nhường nào, nhưng họ luôn ghi nhớ không quên bổn phận của mình. Dạy dỗ cháu của ông: “Giới kỳ huynh tử ngôn, văn nhân chi ác, đương như văn phụ mẫu chi danh, nhĩ khả đắc văn, khẩu bất khả đắc đạo dã”. Nghe thấy lời nói phê bình người khác có thể nghe nhưng không thể nói. Cũng giống như tên của cha mẹ vậy, chỉ có thể nghe chứ không thể nói hoặc gọi tên của cha mẹ được. Đây là thái độ cảnh giác lo sợ. Đương nhiên “tai có thể nghe thấy”, bởi vì cũng hết cách, đành nghe thôi. Nếu như có thể thì khi người ta vừa phê bình ai đó thì bạn liền nói: “Xin lỗi nha, tôi phải vào nhà vệ sinh chút, vậy thì bạn sẽ không cần nghe nữa. Bởi vì chúng ta cũng có lúc muốn cân thử cân lượng của mình, có thể nào sau khi nghe xong thì không lưu lại ấn tượng gì, có thể không? Nói thẳng ra là rất khó. Vừa nghe đến phê bình một ai đó, hôm sau gặp người đó thì hình như đúng là như vậy, càng nhìn càng giống, thật sự như vậy. Cho nên chúng ta phải hiểu được cái tình huống như vậy, không nên nghe lời phê bình. “Đây nói phải, kia nói quấy, không liên quan chớ để ý”. Hơn nữa, trong lòng cũng không nên ghi nhớ điều không tốt của người ta, lúc nào cũng nên ghi nhớ ơn của người khác. Đây là tâm thái khỏe mạnh vui sướng nhất. “Ân phải báo, oán phải quên”.

Tiếp đến là nói: “Tư giới chí hỷ”. Sự khuyến khích, sự răng dạy này thực tại là quá giỏi rồi, cảm thấy rằng Mã Viện dạy dỗ cháu của mình trong đoạn này thật là quá đáng quý. “Nhân hoặc hủy kỷ, đương thoái nhi cầu chi ư thân”. Đoạn này cũng là một lời nhắc nhở rất quan trọng đối với chúng ta.

Khi chúng ta chung sống với mọi người, người ta hủy báng chúng ta, hủy báng mình thì phải nên bình tĩnh trở lại, lui lại và tự suy nghĩ về hành vi của chính mình. “Nhược kỷ hữu khả hủy chi hành, tắc bỉ ngôn đương hỷ”. Giả như chúng ta làm ra hành vi đích thực là có chỗ không đúng, có chỗ không tốt, vậy thì tự chúng ta đã chiêu cảm đến sự phê bình hủy báng của người khác. Và ông nói cũng rất đúng. “Đương hỷ” là không có sai, người ta nói không sai. “Nhược kỷ vô khả hủy chi hành”, nghĩa là bản thân mình không có một chỗ nào tự mình làm không đúng mà chiêu cảm đến sự phê bình của người khác. “Tắc bỉ ngôn vọng hỷ”, nghĩa là ông nói đó cũng chưa chắc là sự thực, là hư vọng. Họ nói không phải là sự thật. bạn việc gì phải đi so đo tính toán. “Tương tắc vô oán ư bỉ”, nếu người ta nói mà thỏa đáng thì đương nhiên bạn không thể oán trách người ta, thậm chí là bạn phải cảm ơn họ, họ chính là quý nhân trong cuộc đời của bạn. Con người: “Nhất nhật bất tri phi, tắc nhất nhật an ư tự thị” thì sẽ bước đi về chỗ cũ, họ nói cho chúng ta biết để chúng ta có thể sửa, không những là không thể oán họ mà còn phải cảm ơn họ. Cho nên có thể thành Thánh Hiền hay không thì thái độ này là mấu chốt.

Tử Cống là hiền nhân “nghe lỗi mà vui”, Đại Vũ là thánh nhân “nghe lời thiện mà bái lạy”. Người ta khuyên bảo đúng đắn thì Ngài lễ kính, đảnh lễ, cảm tạ đối với người đó.

“Đương tắc vô oán ư bỉ”, nghĩa là không thể oán người ta, cảm tạ người ta. “Vọng tắc vô hại ư thân”. Giả như họ nói không phải là sự thực, lại không tổn hại gì đến thân thể chúng ta. “Hựu hà phản báo yên”, nghĩa là hà tất gì phải báo thù.

Chúng ta xem: “Vọng tắc vô hại ư thân”. Câu này có đạo lý hay không? Họ nói đó không phải là sự thật, phê bình mình không đúng, chúng ta có bị mất đi miếng thịt nào hay không, có hay không? Nếu không có vậy thì có gì đáng để giận đâu chứ. Xin nói với mọi người, không những là không mất đi miếng thịt nào, có khi còn mập mạp thêm. Thật chứ không phải giả!

“Liễu Phàm Tứ Huấn” đã nói với chúng ta: “Vô quá cữu nhi hoành bị ác danh giả”. Một con người không có lỗi lầm mà vẫn có nhiều người gieo tiếng ác thì họ sẽ “tử tôn vãng vãng châu phát”, thì con cháu của họ sẽ càng vinh hiển hơn. Đúng vậy! Họ không có lỗi lầm gì mà cũng bị bao nhiêu là hủy báng và sỉ nhục, con người có thể nhẫn nhục thì sẽ có đại phước phần về sau.

“Quán đức ư nhẫn, quán phúc ư lượng”. Họ có thể nhẫn, họ cũng là người có độ lượng, họ không tính toán, phước về sau sẽ rất nhiều. Cho nên khi người ta mắng chúng ta là đã đem nghiệp tội của chúng ta tiêu trừ bớt, và còn đem phước lại cho chúng ta, có phải không? Cho nên con người vì sao lại nổi giận? Vì không hiểu được chân tướng, vừa hiểu được rồi thì tâm an lý đắc. Con người ở thế gian này nói thẳng ra việc gì cũng là việc tốt, không có một việc gì là xấu cả. Người mắng bạn thì bạn hãy nhớ câu phía sau là: “Con cháu đời đời hiển vinh. Bạn xem, không những bạn mập ra mà con cháu bạn cũng đều có phước. Cho nên cái lý này phải suy nghĩ cho thấu đáo. Khi đã thấu đáo rồi, ngày mai có người mắng bạn thì bạn sẽ rất vui, “ây da, tiêu nghiệp được rồi, trả được bớt nợ rồi, lại được tích thêm phước nữa. Con người một khi rõ lý thì tâm sẽ rất an, mỗi ngày đều vui cười ha ha… Không có chuyện xấu thì đương nhiên là vui cười rồi. Cho nên nếu như học tập văn hóa truyền thống mà vẫn chưa cười ra được thì cái đạo lý này cũng vẫn là chưa thấu thông. câu nói này có một chút nuốt không trôi. Dù nói là: “Vọng tắc vô hại ư thân”, nhưng mà tôi vẫn rất là đau buồn.

Trong “Liễu Phàm Tứ Huấn” cũng có nói: “Nghe lời hủy báng không cần biện minh, tuy tiếng xấu ngút trời, như lấy lửa đốt trời, rồi sẽ tự tan biến”. Họ cho dù mắng đến đâu, mắng đến sau cùng, vốn dĩ là không có, lâu ngày thấy được lòng người, người ta đều nhìn thấy, ây da, đâu có đâu, người đó không có biện bạch, người đó thật là có tu dưỡng”. Nghe hủy báng mà đi tranh luận, người ta vừa phê bình thì mau mau đi giải thích, thậm chí là mắng nhau, “như tằm xuân làm kén, tự mình quấn tơ. Biện bạch đến sau cùng thì càng tô càng đen, làm cho chính mình bị khốn đốn. Những lời giáo huấn này kỳ thực đối với một con người đối nhân xử thế, ứng đối tiến thoái đều là học vấn then chốt nhất. Các vị học trưởng, nói đến chỗ này các vị đã từng đem những đạo lý này dạy cho con cái các vị hay chưa? Nếu như vẫn chưa vậy thì con cái các vị xung đột với người ta nguyên nhân nằm ở đâu? “Nuôi không dạy, là lỗi của cha. Dạy không nghiêm, là lỗi của thầy”. Câu nói này tôi nghe xong thì thấy hổ thẹn, cho nên khi tôi giở ra xem thì đều rất là cẩn thận. Tôi dạy qua cho học trò thì có tên trong danh sách hay không vậy? Như vậy thì Vua Diêm La đã ghi thêm cho tôi một tội, cho nên tôi ngay từ đầu đã có đem đạo lý nói cho chúng biết.

“Thư văn nhân hủy kỷ nhi phẫn giả”, nghe người ta phê bình mà nổi giận. sửu thanh chi gia nhân dã”, chính là họ rất làm không hài lòng, rất căm ghét người khác đem lời hủy báng gán lên họ. Nhưng mà họ càng đối đãi như vậy, càng không hài lòng, “nhân báo giả tư thậm”. Họ càng không hài lòng, càng tranh cãi với người ta thì người ta lại không ngừng tranh cãi lại, hủy báng càng nhiều hơn. “Bất như mặc nhi tự tu dã”, nghĩa là không bằng trầm lặng, trầm tĩnh trở lại, phải tỉnh chính mình, tu dưỡng chính mình cho tốt. “Ngạn viết”; chữ “ngạn” này chính là vào lúc đó. Hầu hết lão bá tánh thường nói chuyện với nhau đều dùng ngạn ngữ. “Cứu hàn mặc như trọng cầu”, vào ngày rất lạnh giá, có thể chống rét giá và tránh được sự tổn thương do giá rét, tốt nhất là áo da dày. “Trọng cầu”, ở đây là ví dụ.

Tiếp theo, câu này nói rất hay: “Chỉ báng mặc như tự tu”. Muốn ngăn cản sự hủy báng, phương pháp giải quyết căn bản nhất chính là tự mình tu dưỡng có tốt hay không. Tiêu tốn quá nhiều thời gian để đi giải thích, để tranh cãi, sau cùng thì đức hạnh lại càng ngày càng kém, vấn đề càng ngày càng nghiêm trọng. “Tư ngôn tín hỷ”, những lời này nói ra rất là đáng quý, quá chân thật.

“Nhược dữ thị phi chi sĩ, hung hiểm chi nhân, cận do bất khả, huống dữ đối hiệu hồ, kỳ hại thâm hỷ, khả bất thận dữ”. Câu nói này cũng là lời dặn dò quan trọng. Những người làm ra chuyện thị phi này, vả lại tâm tánh cũng tương đối hung hiểm, cận kề đều không được, còn ở đó lý luận với họ, đối lập với họ, tranh cãi, vậy thì họa hại về sau sẽ rất là sâu nặng, làm sao có thể không thận trọng được chứ.

“Ngô dữ thời nhân tùng sự, tuy xuất xứ bất đồng, nhiên các hữu sở thủ”. Tôi khi cùng chung sống với những bà con bạn bè này, những người bằng hữu này thái độ dù là từ quan, làm quan hay ở ẩn, không như nhau. “Nhiên các hữu sở thủ”, thái độ này đáng quý. Đối diện với những người giao thiệp đều có thể học tập được ưu điểm của người ta, học lấy sở trường của người ta.

“Đệ Tử Quy” nói: “Thấy người tốt, nên sửa mình. Dù còn xa, cũng dần kịp”. Chúng ta thể hội Kinh điển, quan trọng nhất chính là làm nó trở thành thái độ xử sự của chính mình, việc này sẽ có lợi ích vô cùng. Bản thân chúng ta, bao gồm cả con cái, thật sự lúc nào cũng có thể có thái độ thấy người ta thiện thì liền muốn học tập theo, con cái của các vị cuộc đời này không cần các vị phải bận tâm nữa. Chúng mỗi ngày tiếp xúc với người, sự và vật đều để cho chúng học tập và nâng cao, chúng sẽ “đức tiến dần, lỗi ngày giảm”. Năng lực, trí huệ, đức năng đều đang tiến bộ, đứa trẻ này còn cần chúng ta lo lắng nữa hay không? Thái độ này tin rằng sẽ trở thành tấm gương vô cùng tốt cho con cái của chúng nữa. Cho nên chúng ta phải quay đầu lại mà hỏi chính mình, chúng ta có “thấy người tốt, nên sửa mình” hay là không? Sự suy nghĩ này cụ thể hơn mà nói, ví dụ như mỗi ngày chúng ta thân cận với ai vậy? Bạn nói: “Tôi mỗi ngày đều nhất định nghe Sư trưởng Ngài giảng Kinh”, “thấy người tốt, nên sửa mình”, vậy thì chúng ta nhìn thấy Sư trưởng có những ưu điểm gì, đức hạnh gì? Chúng ta hạ quyết tâm học tập noi theo, có hay không? Việc này phải suy nghĩ cho cụ thể. Kết quả là tỉ mỉ suy nghĩ trở lại dường như không có làm được điều gì hết. Cho nên học tập thì không thể dùng cái đầu, phải dùng cái gì? Nếu dùng đầu thì chỉ biết nhớ đủ thứ. “Thấy người tốt, nên sửa mình” ai ai cũng biết đọc, chân thật bình tĩnh lại dụng tâm cảm nhận xem, cơ hồ như không có học. Bởi vì nếu có học thì sẽ tiến bộ, không học thì sẽ thụt lùi. “Học như bơi thuyền ngược nước, không tiến ắt lùi”.

Vì vậy, hôm nay trở về là có bài tập quan trọng đấy. Đem điều mà các vị bội phục nhất của bạn bè, người thân, hoặc là thiện tri thức liệt kê ra năm người, sau đó lại viết ra bạn đã học được gì từ trên năm người họ. Hãy đem nó viết ra tường tận. Đây là bước thứ nhất. Viết ra là để làm gì? Là để nhìn thấy. Ngay cả nhìn cũng không thấy vậy thì làm sao noi theo. Việc đầu tiên là ghi ra, tiếp theo viết ra là gì? Ưu điểm của họ ta đã học theo được điều gì rồi? Tiếp đến, cụ thể ta học theo như thế nào? Có lúc biết được ưu điểm của Khổng Tử, ưu điểm của Tăng Tử, vấn đề là vừa nghe xong rất cảm động, đi ra khỏi cửa thì đã xa tận chín tầng mây, không có liên can gì đến ta. Nhất định phải tỉ mỉ mà viết hết ra, mỗi ngày đều xem. Ấn tượng sâu rồi thì mới có thể áp dụng. Thái độ này chúng ta kể từ hôm nay bắt đầu. Khi chung sống với người thân, bạn bè đều có thể nhìn thấy được chỗ tốt của người ta, tiến đến là học theo cái tốt của họ. Tiếp theo là nói đến ví dụ thực tế.

“Dĩnh Xuyên Quách Bá Ích, háo thượng thông đạt, mẫn nhi hữu tri, kỳ vi nhân hoằng khoáng bất túc, khinh quý hữu dư”. “Dĩnh Xuyên Quách Bá Ích” này, các vị xem người xưa mỗi một người phía trước tên của mình đều là nơi sinh của người đó, là nguyên quán của họ. Đại biểu cho việc con người thì phải có thành tựu, để cho quê hương của mình đều cảm thấy vinh quang. Vừa rồi là rất nhiều người kiến công lập quốc trong lịch sử, sau cùng đều là lấy tên quê hương của người đó để xưng gọi.

“Háo thượng thông đạt, mẫn nhi hữu tri”. Con người này vô cùng dụng tâm trong việc cầu học vấn, đối với đạo lý thì cũng có thể thông đạt, vả lại cũng rất nhạy bén, rất có ngộ tánh. Nhưng “kỳ vi nhân”, họ xử sự độ lượng không đủ. “Hoằng khoán”, là chỉ sự động lượng của người, xem nhẹ.

“Khinh quý hữu dư. “Dư” chính là nhiều, “khinh quý hữu dư”, vâng vâng… nghĩa là tâm yêu ghét có hơi mạnh một chút. Ưa thích thì sẽ rất tốt, chán ghét thì nhìn không thấy họ tốt chỗ nào. Đây là đại kỵ trong việc xử sự. Nói thẳng ra, hễ ưa thích thì sẽ tốt không thể tả, nhìn không thấy vấn đề của người ta; còn mà ghét thì sẽ loại bỏ thẳng tay, không học được chỗ tốt của người ta, thậm chí còn đối lập với người ta. Việc này về sau sẽ tạo thành một số sự xung đột.

Tiếp theo, lại nói đến “đắc kỳ nhân”. Cũng như là có duyên phận với người ta rất tốt, rất nhiều thứ để nói. “Trọng chi như sơn”, vô cùng coi trọng họ. “Bất đắc kỳ nhân”, nhìn thấy người này không phải là hợp ý cho lắm. “Hốt chi như thảo”, coi nhẹ người ta cũng như cỏ rác.

Mọi người hãy suy nghĩ thử xem, nếu như ngày nay chúng ta chung sống với người ta, người nào đó nhìn thấy không vừa mắt thì xem họ như là cỏ lá vậy, bạn nói việc đó không chiêu cảm đến sự bất mãn đối lập của người ta thì rất khó. Cho nên trong văn hóa Trung Hoa nhấn mạnh “chủ kính tồn thành”, luôn luôn giữ gìn tâm cung kính đối với người sự và vật. Không thể thành kính mà còn ngạo mạn, vậy thì cái tâm này đã bị bệnh rồi, bị bệnh nặng lắm rồi.

“Ngô dĩ sở tri, thân chi nặc chi, bất nguyện nhi tử vi chi”. Ông cùng Quách Bá Ích cũng có thể nhìn thấy được ưu điểm người đó. Chung sống với người ta cũng rất thân thiết, giao thiệp rất tốt, nhưng mà cũng không muốn học theo thái độ cả cuộc đời của Bá Ích.

“Bắc hải Từ Vĩ Trường”, Bắc hải Từ Vĩ Trường tiên sinh. “Bất trị danh cao, bất cầu cẩu đắc”, người như vậy là đã xem nhạt danh lợi, không tham cầu. Kỳ thực chỉ cần cầu danh lợi thì việc học vấn sẽ không thể tiến lên được, đã bị dục chướng ngại mất. Cho nên Khổng Tử nói: Sĩ chí ư đạo, nhi sỉ ác y ác thực giả, vị túc dữ nghĩa dã”. Một người nói phát nguyện muốn cầu đại đạo Thánh Hiền, thế nhưng mỗi ngày lại đi lựa chọn thức ăn, mỗi ngày đều lựa chọn quần áo để mặc, vậy thì không phải là tinh thần của họ đang hao tổn vào những việc tham cầu này rồi sao, họ làm sao mà lập đạo. Bạn xem mỗi ngày khi ra ngoài chỉ việc chọn quần áo để mặc mà cũng chọn nửa giờ chưa chọn xong, lựa chọn đến sau cùng lại còn phát cáu nữa, vậy thì tu đạo ở chỗ nào đây? Tham sân si mỗi ngày đều khởi lên. “Đạm nhiên tự thủ, duy đạo thị vụ”, phải dửng dưng đối với những sự tham cầu vật chất. Sau đó, chữ “tự thủ” này có nghĩa là luôn có thái độ tự chế định mình cho phù hợp lễ giáo, luôn quán chiếu chính mình có tương ưng với đạo của Thánh Hiền hay không. Chữ “vụ” này chính là vô cùng chăm chỉ thật thà học tập.

“Kỳ hữu sở thị phi tắc thác cổ nhân dĩ kiến kỳ ý, đương thời vô sở bao biếm ngô kính chi trọng chi, nguyện nhi tử sư chi”. Từ Vỹ Trường tiên sinh trong khi đối diện bàn luận với bằng hữu, có thể là do bằng hữu đã nêu ra, hỏi việc gì đó thế nào là “thị”, thế nào là “phi”. Ông cũng rất phúc hậu, nhu hòa, ông cũng không trực tiếp nói những người khi đó, thậm chí là những người thân bạn bè bên cạnh không trực tiếp nói những việc thị phi thiện ác của những người này. Bởi vì nói xong có lúc truyền ra ngoài có thể lại tạo ra sự ngăn cách. Đó là giả như người ta không thể tiếp nhận, nhưng mà lại mong muốn đem cái lý, cái thị phi này nói ra cho rõ ràng, cho nên ông mới “thác cổ nhân dĩ kiến kỳ ý”, nghĩa là lấy ví dụ về sự giáo huấn của người xưa, đem những đạo lý thị phi này hiển bày ra rõ ràng. Mà “đương thời vô sở bao biếm”, nghĩa là không có sự khen chê trực tiếp đối với những người khi đó. Vì vậy, việc xử sự này xem như là rất viên dung. “Ngô kính chi trọng chi”, ta đối với họ vô cùng tôn kính tôn trọng, mong muốn con cái lấy người đó làm thầy để mà noi theo, học tập. “Lạc an nhiệm chiêu tiên”, một người đọc sách khác vào thời đó. “Thuần túy lý đạo”, con người này rất chân thật, rất thiết thực đi thực tiễn đạo đức, con người cũng rất đơn thuần. “Nội mẫn ngoại thứ”, nội tâm rất mẫn tiệp, nhạy bén, khoang dung đối với người. Việc này cũng là giáo huấn Thánh Hiền mà chúng ta thường hay nhắc đến. “Nghiêm khắc với chính mình, khoang dung đối với người”, vả lại việc xử sự thì “xử bất tị ô, khiếp nhi nghĩa dũng, ngô hữu chi thiện chi, nguyện nhi tử tuân chi”, chung sống với người, gặp phải sự tình gì. Chữ “ô” ở đây là chỉ chỗ đất trũng, rơi vào trong một cái vũng lầy. Tỉ dụ như là sự khó khăn, xử sự đương đầu với khó khăn, cũng có thể nói việc hạ xuống để xử sự tương đối là thiệt thòi, đừng sợ khó. “Khiếp nhi nghĩa dũng”, rất nói đạo nghĩa, cũng rất dũng cảm, nhưng mà không phải nói cái dũng của kẻ thất phu. Chữ “khiếp” này có nghĩa là rất cẩn trọng, biết thận trọng suy nghĩ chứ không phải là lỗ mãng. Chúng ta lúc trước có nói qua “dũng nhi năng khiếp”, rất dũng mãnh. Rất dũng mãnh nhưng cũng biết phải cẩn thận kỹ càng, ta cùng với họ rất là thân thiết, cũng học tập họ, noi gương họ, mong muốn con cái có thể tôn trọng, học tập theo họ. “Nhược dẫn nhi thân chi”, đem những ví dụ này mà có thể dụng tâm thể hội. Suy mở rộng ra “xúc loại nhi trưởng chi”, lấy một suy ra ba. “Nhữ kỳ thứ cơ cử nhất ngung nhĩ”, ý nghĩa là học một biết mười, tiếp đến là nói sự tình một cách cụ thể, học tập đức hạnh của những người này. Trong việc xử sự thì “cập kỳ dụng tài, tiên cử tộc”, chỉ cần là dùng đến tài vật thì nhất định phải nghĩ đến những người thân bên cạnh trước tiên, đến những người có cùng chung huyết thống. “Kỳ thí xả vụ chu cấp”, chỉ cần nhìn thấy những người thân bạn bè gặp khốn khó nguy cấp thì nhất định phải mau đi giúp đỡ họ. “Kỳ xuất nhập tồn cố lão”, đi khỏi nhà hay quê hương phải thường xuyên nhớ đến người lớn, phải quan tâm người lớn, mua những thứ người lớn thích ăn, ghi nhớ không quên ơn đức của họ đối với cuộc đời chúng ta. “Kỳ nghị luận quý vô biếm”, khi đàm luận với người ta, không nên hạ thấp người khác thậm chí là hủy báng người khác. “Kỳ tiến sĩ thượng trung tiết”, tiến sĩ nghĩa là làm quan, phải thượng tôn lòng trung; trung với quốc gia, và phải có tiết nghĩa. “Kỳ thủ nhân vụ đạo thực”. “Thủ nhân” ở đây chính là khi kết giao với người phải tìm đến sự “đạo thực”, nghĩa là tìm đến người bạn thật sự không tìm những người bạn phù phiếm, không nên tìm những người bạn có tâm yêu ghét quá nặng.

Chúng ta cũng đã nói: “Chọn bạn như chọn thầy”, việc chọn bạn bè cũng phải cẩn thận giống như chọn thầy vậy, nếu không chính ta bị ảnh hưởng rồi cũng đọa lạc theo. “Kỳ xử thế, giới ngạo dâm”, xử thế đối người không được kiêu ngạo, sau đó lại trầm mê dâm loạn. “Kỳ bần tiện thận vô thích”, tự mình khi bần tiện, không nên tỏ ra giống như rất thê lương, rất bi thương, nghèo mà có khí tiết. “Kỳ tiến thoái niệm hợp nghi”, nghĩa là ứng đối tiến thoái phải thích hợp, thỏa đáng, phải hợp nhân tình sự lý. “Kỳ hành sự gia cửu tư”, đây là khi làm việc, khi ứng đối với người phải có thể dùng “cửu tư”. Chữ “cửu tư” này có nghĩa là suy nghĩ nhiều, thường xuyên quán chiếu chính mình. Có hàm một ý nghĩa khác nữa chính là Khổng Tử đã nói ở trong “Luận Ngữ”:

“Quân tử hữu cửu tư: thị tư minh, thính tư thông, sắc tư ôn, mạo tư cung, ngôn tư trung, sự tư kính, nghi tư vấn, phẫn tư nan, kiến đắc tư nghĩa”. Việc này thì khóa trình lúc trước chúng ta đã nói qua rồi. “Như thử nhi dĩ, ngô phục hà ưu tai”. Các vị giả như đều đã làm được, vậy thì tôi có thể kê cao gối mà ngủ rồi. Con hiền cháu thảo rồi, mỗi ngày ngồi ở trên ghế mà đung đưa một cách an ổn, không có ưu lo gì cả. Được rồi, bài giảng hôm nay tạm thời giao lưu với mọi người đến đây thôi, tiết học tiếp theo chúng ta sẽ cùng nhau học câu thứ năm. Xin cảm ơn mọi người!

HẾT TẬP 14 – Xin xem tiếp tập 15 – Quần Thư Trị Yếu 360