QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 GIẢNG GIẢI – TẬP 18

Chủ giảng: Thầy giáo, Tiến sĩ Thái Lễ Húc
Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Viên Đạt Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ
Thuyết minh: Hạnh Quang
Download toàn bộ MP3



Quần thư trị yếu 360 – Tập 18

Một ngày không nhìn ra sai trái của mình thì ngày đó an nhiên, tự nghĩ rằng mình đúng; một ngày không có lỗi để sửa thì ngày đó không tiến bộ, sẽ mãi thụt lùi. Thật ra, chúng ta sống ở thế gian này muốn không thụt lùi thì cũng không đơn giản. Có vị học trưởng nào nói như vầy không: “Hôm nay tôi tôi không có tiến bộ, cũng chẳng có thụt lùi, tôi đã cố định được một chỗ rồi”. Công phu của các vị tốt như vậy! Một ngày con người ta gặp phải bao nhiêu cảnh giới? Hàng vạn thứ xuất hiện. Nhiều bài thi như vậy tới tấp bay đến, các vị không có tiến bộ cũng chẳng có thúi lui thì tôi không tin. Tùy lúc mà tiến hoặc thoái, không tiến thì sẽ thoái. Khi mà chính mình chưa có cách nào nào để nhìn thấy bản thân mình chưa hoàn thiện thì những người xung quanh chính là lực lượng quan trọng nhất nhắc nhở chúng ta. Vì vậy: “Thang Vũ dĩ ngạc ngạc nhi xương”, các vị quan không bị liên lụy đối với lời nói thẳng không kiêng nể của họ. “Kiệt Trụ” Hạ Kiệt Thương Trụ, những vị vua bị mất nước. “Dĩ duy duy nhi vong”, Hạ Kiệt Thương Trụ đều không nghe lời khuyên của các vị quan, nếu ai khuyên thì liền giết người đó. Rốt cuộc là các vị quan không dám khuyên ngăn, tất cả đều nịnh bợ nhà vua nên bị mất nước. Vì vậy chúng ta xem vua Kiệt, vua Trụ trong lúc đang còn tại vị xung quanh có trung thần, có Thánh Nhân, nhưng vua vẫn bị mất nước, mấu chốt vẫn là do bản thân của nhà vua. Các vị xem, vua Trụ lúc đó có Tỷ Can, có Cơ Tử, có Vi Tử, đều là Thánh Nhân. Không phải do ông trời muốn hại các vua này, là do họ tự chiêu cảm tai họa đến.

Trước đây chúng ta đã học qua, có vị là Hạng Vũ đặc biệt có điều kiện để làm hoàng đế, đúng không? Chúng ta cũng đã học qua trong “Sử Ký” có nhắc đến Hạng Vũ, lúc cuối cùng bị bại trận có nói một câu “trời đã diệt ta”, ông trời muốn diệt ta. “Phi dụng binh chi tội dã”, không phải là ta không biết đánh trận. Các vị xem, phước báu của ông ấy lớn như vậy nhưng cuối cùng cũng bại trận, vẫn không tỉnh ra, vẫn đẩy trách nhiệm cho ông trời. Nói theo thành ngữ là cuồng vọng cùng cực thì đâu có đạo lý không bị bại trận chứ. Cho nên ở đây: Quần thần tỏa tỏa, giai bất thị nhậm dã”, cũng có một mối quan hệ với cấp lãnh đạo. Họ một người lãnh đạo đã dẫn ra một phong khí của đoàn thể. Mà các vị quan thời của vua Nghiêu vua Thuấn, bởi vì  vua Nghiêu vua Thuấn đã chỉ dạy các vị quan phải vì nhân dân, phải dũng cảm can gián. Các vị quan rất là quyết đoán. Tiếp theo là: “Bất túc nhiệm chi”, giả như có những vị quan chánh trực có dũng khí, các vị không cần họ. “Bất túc nhiệm chi”, “thần đương thụ thành giả dã”, những vị quan này tốt nhất là phải nghe lời của ta, vậy là phiền phức rồi. Đều phải nghe lời của các vị, vậy thì “dĩ độc đoạn chi quân”. Đây là sự cố chấp bướng bỉnh, chỉ là thuận theo ý của mình. “Độc đoạn chi quân”, “dữ thụ thành chi thần”, chỉ tiếp nhận mệnh lệnh không biết khuyên can, phản ứng tình huống của các vị quan. Những điều này kết hợp lại: “Soái ngoa ngụy chi tục”, những việc mà vua của họ làm đều là hành vi lừa gạt giả dối, đã làm thay đổi phong tục. “Nhi thiên hạ trị giả”, dùng thái độ, phương cách như vậy để cai trị thiên hạ, mà thiên hạ có thể đại trị. “Vị chi hữu dã”, điều này thì không thể được. Vì vậy việc giáo hóa lãnh đạo, đoàn thể rất là quan trọng, vẫn phải là thật sự “cầu thị”, dũng cảm đối diện với sự thật.

Tôi đã từng nghe được một điều, cảm thấy đối với chúng ta hiện nay cũng là một lời nhắc nhở rất quan trọng. Cho dù là cả một quốc gia hay cả một đoàn thể: “Thượng dĩ ngôn ngữ vi trị, hạ dĩ ngôn ngữ vi học, thế đạo chi sở dĩ nhật giáng dã”. Thế đạo nhân tâm này vì sao càng lúc càng tệ hại vậy? Trong đó có một nguyên nhân rất quan trọng, chính là không thực tế, là phù phiếm. Là những hiện tượng nào vậy? Những vị lãnh đạo cảm thấy rằng lời nói của họ là hay, mọi người nghe xong liền cổ vũ,  như vậy họ thống trị  tốt rồi. Chúng tôi hiện nay nhìn thấy một số hiện tượng, có lãnh đạo của các đơn vị báo cáo, nói hay vô cùng, báo cáo xong thì bước xuống, tất cả đồng nghiệp của họ nói, “báo cáo rất hay, báo cáo rất hay!. Báo cáo hay để làm gì chứ? Thật sự đem lại lợi ích cho đoàn thể sự nghiệp là phải làm. Vì vậy, trong Kinh điển có nói một câu rất quan trọng “vi chánh bất tại đa ngôn”, nói xong là phải đi làm ngay, không phải là nói năng quảng cáo quá nhiều hoặc là những lời tự mãn, như vậy thì không cần thiết. Ngay cả phong cách của nhà vua luôn luôn lo sợ  là nói được mà làm không được.

Quân tử biết hổ thẹn vì lời nói vượt quá việc làm, vì vậy không nên đem tinh thần đặt vào trong lời nói. Làm thế nào để cho người nghe không ngừng tán thán bản báo cáo, quan trọng hơn nữa là phải nhanh chóng thực hiện những công việc này. Nói hay mà làm không được thì sẽ mất uy tín với mọi người. “Phàm xuất ngôn, tín trước tiên”. “Tự cổ giai hữu tử, dân vô tín bất lập”, nói nhiều mà làm không được, rốt cuộc thì mất hết uy tín với cả tập thể, có thể không còn khả năng tập hợp mọi người. Người lãnh đạo dùng lời nói mà cảm giác là đã quản lý được tập thể rồi, những người cấp dưới lại cảm thấy lời nói, đặc biệt là người có tài hùng biện thì gọi là có học thức, vì vậy họ ở đó cân nhắc làm thế nào để rèn luyện tài hùng biện càng lúc càng được tốt hơn. Vì vậy, tất cả những người dụng công phu đều là ở trên hư danh, không phải ở trên thực tế, thì làm sao họ tăng trưởng được trí tuệ và năng lực? Điều này gọi là dùng sai tinh thần. Nhìn thấy câu nói này, vì sao tôi lại có ấn tượng đặc biệt sâu sắc? Bởi vì, lần đầu tiên trong một ngôi giảng đường lớn ở Bắc Kinh,  ngày đầu giảng xong rời bục giảng, lúc đó tôi muốn về nhà (vẫn còn đi bộ trong khuôn viên trường chưa ra khỏi cổng), có một bạn sinh viên nam rất phấn khích đến tìm tôi. Câu đầu tiên cậu ấy nói với tôi: Wao, tài hùng biện của thầy Thái thật tuyệt vời!. Nhưng chú ý, tôi đã giảng hai giờ đồng hồ, họ quan tâm đến điều gì? Khả năng hùng biện. Hai giờ đồng hồ, lời chúng tôi nói là đạo lý trong Ngũ luân, không có câu nào làm xúc động tâm của họ. Đương nhiên việc này cũng phải trách tôi, là chưa đủ lòng chân thành, trong tâm của họ chẳng đọng lại được một câu Kinh nào lại đi ngưỡng mộ là “tài hùng biện”. Các vị xem hiện nay, thanh niên sau một thế hệ rốt cuộc là họ chú trọng điều gì? Bạn xem, chúng ta thế hệ trước không hướng dẫn tốt cho họ thì những người thế hệ sau đối với việc gì là quan trọng, điều gì là thứ yếu, đảo lộn hết. “Đức giả bổn dã, tài giả mạc dã”, hiện nay chỉ cắm đầu cắm cổ để được tăng trưởng tài năng, nhưng đức hạnh thì không được nâng cao, rốt cuộc là xã hội này ở trong một dòng nước lũ lớn. Đức hạnh của họ không chống đỡ nổi, không chống chọi lại với nhiều điều mê hoặc dụ dỗ.

Đoạn này nhắc chúng ta, thật sự dùng từ “ngoa ngụy” này; lừa dối hư ngụy thì không thể làm cho thiên hạ bình yên được. Vì vậy, tiếp theo “phu Thánh Nhân chi tu kỳ thân”, bậc Thánh Hiền chỉ lo tu dưỡng đức hạnh. “Sở dĩ ngự quần thần dã”, Thánh Nhân ở đây là chỉ cổ Thánh tiên Hiền có thể lãnh đạo quản lý quần thần của họ. Tiến thêm bước nữa là: “Ngự quần thần dã, sở dĩ hóa vạn dân dã”, nhà vua đã lãnh đạo tốt các vị quan trong từng nhiệm vụ của mình, còn chăm sóc tốt người dân nữa. “Kỳ pháp khinh nhi dị thủ”, pháp luật thì không có hình phạt nghiêm khắc, nhân dân rất dễ tuân theo. “Kỳ lễ giản nhi dị trì”, sự dạy bảo về những lễ nghi của họ rất đơn giản, dễ dàng, áp dụng thực hiện trong cuộc sống hàng ngày của người dân. Trọng điểm của tất cả sự quản lý đó là đặt mình vào trong hoàn cảnh của người khác, luôn lo nghĩ cho người dân. “Kỳ cầu chư kỷ dã thành kỳ hóa chư nhân dã thâm”, họ cầu ở chính mình, tự kiểm điểm lỗi lầm của chính mình, kiểm điểm lỗi lầm vô cùng chân thành sâu sắc. Mà thái độ nay của họ cảm hóa rất sâu sắc người dân cùng với quần thần, đây là sự chiêu cảm lẫn nhau.

Đường Thái Tông trong những năm đầu Trinh Quán gặp đúng ngay tai họa châu chấu. Châu chấu ăn hoa màu ngũ cốc. Ngay lúc nhà vua ra bên ngoài thì gặp tình hình này, vua bắt một con châu chấu nói: “Lương thực này là tánh mạng của người dân, không có lương thực thì người dân sẽ chết đói. Nếu như người dân có tội là do ở nơi trẫm không dạy dỗ người dân cho tốt, vì vậy các vị không nên ăn phần lương thực này, sẽ gây họa cho người dân”. Nhà vua nói với châu chấu: “Nếu như các vị có linh tánh, các vị hãy đến cắn xé tâm của ta, không nên gây tổn hại cho người dân”. Nói xong liền đưa con châu chấu vào trong miệng. Động tác này vừa thực hiện, các vị quan ở hai bên liền la lên “thưa bệ hạ! Không thể được, Ngài ăn không được đâu, đến lúc bị bnh thì phải làm sao?”, lo sợ bên trong con châu chấu này có vi khuẩn gì hay không, hoặc là có cái gì, ăn như vậy sẽ bị bệnh. Đường Thái Tông liền nói: “Chính là trẫm muốn để cho châu chấu giáng tội lên người của trẫm, trẫm còn sợ bị bnh à!. Vừa nói xong, liền ăn ngay. Kết cuộc rất kỳ diệu! Sau khi nhà vua làm như vậy, nạn dịch châu chấu ở khắp nơi không còn nữa. Vì vậy, các vị xem trong lịch sử, sự phản tỉnh thành tâm của một vị lãnh đạo cao nhất của đất nước thì trời đất cũng động lòng, tai họa đều được hóa giải.

Việc này không phải chỉ có Đường Thái Tông lúc đó làm như vậy, đời nhà Thanh cách chúng ta không xa có Khang Hy, Ung Chính, Càn Long. Như thời Hoàng đế Khang Hy, một số tỉnh bị nạn hạn hán nghiêm trọng, Hoàng đế Khang Hy đích thân ăn trai, giữ giới thanh tịnh, cuối cùng dùng tâm chí thành đi đến đàn tế trời cầu mưa. Trong lúc đi, bầu trời quang đãng, không có chuyển mưa. Đợi đến lúc hướng lên bầu trời đọc sớ văn, vừa đọc xong liền phát hiện trong không trung bắt đầu thay đổi, đợi đến lúc về đến cung vua thì trời mưa. Sau đó thì mưa liên tục mấy ngày, các sớ tấu bẩm báo khẩn cấp từ các tỉnh cách mấy trăm dặm truyền đến, khắp nơi đều có mưa. Vì vậy, tổ tiên đã ấn chứng chân tướng của vũ trụ, lòng thành cùng cực, vàng đá cũng tan. Chúng ta đối xử giữa người và người cũng phải dựa vào lòng chí thành để giao cảm, để cảm hóa hai bên, để đoàn kết hơn, vì lợi ích cho sự nghiệp của đại chúng mà nỗ lực.

Tiếp theo là: “Cẩu phi kỳ nhân, đạo bất hư hành, cẩu phi kỳ đạo, trị bất hư ưng”. Thật ra điều này cũng là nhấn mạnh có những người như vậy, họ làm được những hành động đạo nghĩa này thì có thể cảm động được người dân, cũng là noi theo đức hạnh và hành vi của họ mới có thể có những hồi đáp như vậy. “Thị dĩ cổ chi thánh quân chi ư kỳ thần dã”, vua chúa thời xưa đối với các vị quan, đặc biệt là những vị quan lớn ở bên cạnh mình. “Tật tắc thị chi vô số”, bị bịnh rồi, rất nhiều lần đi vấn an tình trạng bịnh của họ. Thừa tướng Ngụy Trưng trước khi lâm chung cũng bị một trận bịnh. Trong khoảng thời gian đó, không biết Hoàng đế Đường Thái Tông đã đi thăm bao nhiêu lần, luôn luôn nghĩ đến vị đại thần này đối với ông còn có sự cống hiến đối với cả quốc gia, nhớ đến ơn của ông. Rất nhiều lần trong các buổi tiệc chiêu đãi, Đường Thái Tông đều nói đến việc trị quốc thời Trinh Quán Chi Trị này may mà có một vị trung thần như Ngụy Trưng, nên phải nhớ ơn. “Tử tắc lâm kỳ đại liệm tiểu liệm”, không ngờ là không bỏ qua quá trình tổ chức lễ tang, các khâu khâm liệm cũng đều đích thân đi đến. “Vi triệt thiện bất cử lạc”, sự ra đi của vị đại thần này làm nhà vua luôn tưởng nhớ, thương tiếc, ăn cơm cũng không có tấu nhạc. Đây cũng là một sự biểu lộ tình cảm tự nhiên của nhà vua. Lúc Ngụy Thừa Tướng qua đời thì trong năm ngày Đường Thái Tông không thượng triều (bãi triều năm ngày). Tình nghĩa vua tôi này như vậy thật sự là kiệt tác xưa nay hiếm có, ông đã biễu diễn rất tinh tế. “Há đồ sắc thủ nhân, nhi thực vi chi giả tai”, tình cảm tình nghĩa như vậy chỉ là hành nhân nghĩa trên bề mặt, sự thật thì hành vi trái ngược lại, hoàn toàn không phải như vậy. “Nãi thảm đát chi tâm”, chữ này đọc là “đạt”; bên trái có bộ “tâm”, bên phải một chữ “đán” và của nguyên đán. Chữ “thảm đát” nghĩa là tấm lòng đau buồn của nhà vua. “Xuất ư tự nhiên, hình ư nhan sắc”, người xưa đặc biệt trọng tình nghĩa. “Thế vị hữu bất tự nhiên, nhi năng đắc nhân tự nhiên giả dã”, trên thế gian không có loại biểu hiện tình cảm chân thật nào lại xuất phát từ sự thể hiện thiếu tự nhiên mà khiến người khác cảm động được, đều là như vậy. Nhất định không nói chính mình không chân thành mà vẫn có thể cảm được sự chân thành của người khác. Nếu như thật sự là: “Sắc thủ nhân nhi thực vi chi giả”, trên thực tế nhân nghĩa bề ngoài không phải như vậy. “Vị chi hư”, hành vi của người này là giả dối. “Bất dĩ thành đãi kỳ thần”, không lấy sự chân thành đối đãi với các vị quan của nhà vua. “Nhi vọng kỳ thần dĩ thành sự kỷ, vị chi ngu”, bản thân mình không chân thành mà vẫn cầu mong các vị quan chân thành hầu hạ nhà vua. Có cách nghĩ như vậy thì gọi là ngu muội. Thật ra con người ngu muội, trực tiếp nhất chính là không biết nhân quả, họ không hiểu rõ nhân quả, không có gieo nhân thì làm gì có được kết quả, vậy chẳng lẽ toàn bộ tự nhiên đều điên đảo rồi sao? Chân thành là nhân, cảm được sự chân thành của người khác là quả. Bởi vì họ không chân thành mà vẫn muốn có được sự chân thành, điều này chính là sự nhận thức ngu muội. “Hư ngu chi quân”, ông vua giả dối ngu muội. “Vị hữu năng đắc nhân chi tử lực giả dã”, không được lòng các vị quan, người dân liều mạng hết lòng theo họ. Họ không cảm được, “cố thư xưng”. “Thượng Thư” này nói đến: “Quân vi nguyên thủ”. Các vị xem, hai chữ “nguyên thủ” này là lấy từ trong “Thượng Thư”. “Nguyên thủ” chính là cái đầu. “Thần vi cổ quăng”;  “cổ” là bắp chân, “quăng” là cánh tay, đều là những bộ phận quan trọng nhất của cơ thể. “Kỳ kỳ nhất thể tương tu nhi thành dã”, mong muốn họ phối hợp lẫn nhau, hòa thành một thể, sau đó để cho quốc gia ổn định, an ninh trật tự. “Kỳ kỳ nhất thể tương tu nhi thành”, câu nói này chúng ta áp dụng trong gia đình, trong đoàn thể của mình. Vợ chồng cũng là một thể: Đồng vợ đồng chồng, tát biển đông cũng cạn.

Trong Kinh Dịch cũng có nói: “Nhị nhân đồng tâm, kỳ lợi đoạn kim”, đoàn kết thì sức mạnh vô cùng lớn. “Tương tu nhi thành”, phối hợp với nhau, hỗ trợ lẫn nhau, sau đó thì thành tựu gia nghiệp, thành tựu sự nghiệp. Mà có thể hợp thành một thể, đối xử chân thành với nhau, vẫn là phải dựa vào sự chân thành của bản thân chúng ta để khơi dậy sự chân thành của những đoàn thể ở xung quanh. Vì vậy, cuộc sống ở thế gian này cho dù là ở nhà cũng được, hoặc là ở trong đoàn thể công tác cũng được, đều phải nên nghĩ từ nơi bản thân mình bắt đầu, phải nghĩ làm sao để lợi ích cho gia đình, lợi ích cho tập thể, không uổng phí cái nhân duyên khó có được này. Chúng ta không phải ở trong gia đình để yêu cầu, để trách móc, cũng không phải ở trong đoàn thể để chỉ trích, chúng ta không quên cái tâm lúc ban đầu. Tổ chức gia đình thì phải làm cho gia đình hạnh phúc, vào đoàn thể phục vụ tốt nhất là phải tận hết phần trách nhiệm của mình đối với xã hội. Đây là cuộc sống có ý nghĩa, là đạo nghĩa của đời người. Đối với bất kỳ người nào, đối với bất cứ nhân duyên nào, họ chẳng có chút đòi hỏi nào ở trong đó. Bất kể ai có bất kỳ yêu cầu gì đều không chỉ trích, tâm chân thành mới xuất hiện. Nếu như có xen tạp tham – sân – si – mạn thì tâm chân thành không thể hiện tiền. Cho nên vấn đề là nơi chúng ta, vì tâm chân thành vẫn chưa hiện tiền nên không thể chuyển được những duyên phận xung quanh chúng ta.

Ngài Tăng Quốc Phiên có nói: Một niệm không sanh thì gọi là thành”. Không sanh một vọng niệm, một tập khí thì sự chân thành liền hiện tiền. Không khởi những niệm tham – sân – si này.

Ở đây chúng tôi giảng đến câu thứ bảy là chủ đề “háo danh”. Mà trong lịch sử, những trường hợp vì háo danh mà mất nước không phải là ít. Vào năm Trinh Quán thứ hai, có một lần Đường Thái Tông nói với những cận thần xung quanh “nhà vua giống như là một vật chứa”. Chúng tôi nói đến chỗ này, các vị phải nên nghĩ đến, nhà vua giống như là một vật chứa, nhân dân thì giống như nước vậy, vì vậy nước có hình dạng như thế nào là do vật chứa quyết định. Đường Thái Tông rất trí tuệ, ông biết dùng Ví dụ. Đoạn này chúng ta nên tiến thêm một bước là áp dụng cho chính bản thân mình. Vua là vật chứa, cha mẹ cũng là vật chứa, con cái là nước; thầy cô giáo là vật chứa, học trò là nước. Đạo lý “quân – thân – sư” này tương thông với nhau. Các vị học với chúng tôi “Quần Thư Trị Yếu” cả buổi rồi không nên nói chuyện của nhà vua chẳng có liên quan gì đến tôi”, như vậy thì không được khéo rồi, như vậy thì tôi rất có lỗi với mọi người, đã lãng phí rất nhiều thời gian của mọi người. “Một tấc thời gian một tấc vàng, không thể lãng phí thời gian của mọi người.

Trong Đại Học có một câu nói: “Nghiêu Thuấn suất thiên hạ dĩ nhân, nhi dân tùng chi, Kiệt Trụ suất thiên hạ dĩ bạo, nhi dân tùng chi”. Các vị xem, vua Kiệt vua Trụ tàn bạo ảnh hưởng đến nhân dân, người dân cũng tương đối tàn bạo. Vua Nghiêu, vua Thuấn nhân từ nên người dân lúc đó được vua cảm hóa, cũng rất nhân từ. Hoàng đế Đường Thái Tông nói đến: “Hạ chi sở hành, giai thị thượng chi sở háo ”, hành vi của người dân chịu sự ảnh hưởng rất lớn từ người lãnh đạo, gọi là trên làm dưới theo. Tiếp theo, Ngài nêu lên Ngụy Tấn Nam Bắc Triều, Lương Vũ Đế thời Nam triều. Mọi người có biết hay không, có quen với ông không? Tôi nói một Ví dụ thì mọi người liền nhận ra. Lương Vũ Đế đã gặp tổ sư Đạt Ma, nhớ ra rồi chứ gì? Tiếp kiến tổ sư Đạt Ma: “Thưa Đại sư! Tôi đã xây cất 480 ngôi chùa rồi, vậy có công đức hay không?”. Mọi người xem trường hợp này.

Lương Vũ Đế tuy là một đời tu hành, danh đã buông bỏ chưa? Rất vất vả. Cái danh này không buông bỏ thì sự nguy hại bao lớn vậy? Ngay cả Thánh Nhân ở trước mặt mà còn không giữ lại được. Nếu như ông không háo danh, Tổ sư Đạt Ma đến Phương Đông người đầu tiên được độ là ai? Là Lương Vũ Đế. Nhưng mà vua đã bỏ lỡ cơ hội. Vì vậy, phải buông bỏ danh vọng lợi dưỡng thì mới có thể có được lợi ích chân thật của Kinh giáo, nếu không thì vẫn còn cách một khoảng, không tương ưng. Tổ sư Đạt Ma lòng dạ ngay thẳng, không nói vọng ngữ, liền nói với vua “hoàn toàn không có công đức. Cái công đức này nó không phải là tâm nhiễm trước, tâm tham cầu, mà là tâm thanh tịnh bình đẳng mới gọi là công đức. Do đó không có công đức, chỉ có phước đức. Làm công việc thiện nhưng mà tâm nhiễm trước thì chỉ tích được phước, không thể có công đức để thành tựu trí huệ chân thật. Đặc biệt là lúc đó, vua Lương Vũ Đế đang học Phật pháp và giáo huấn của Lão Tử. Vốn là việc tốt, nhưng nếu như học tập giáo lý Thánh Hiền mà còn tham danh, các vị xem, tôi rất chăm chỉ, mỗi ngày đều tụng Kinh, nghe Kinh, dụng công mười giờ đồng hồ”, lúc nói rất là đắc chí. Thật sự trong lúc nói thì bản thân đã có tâm danh vọng lợi dưỡng rồi, rất nỗ lực tu hành chỉ là muốn tu để cho người ta nhìn thấy. Sự chướng ngại của việc háo danh này thật sự là rất lớn. Vào lúc đó, cha con của Lương vũ đế đối với lời giáo huấn của Thánh Hiền thì họ hoàn toàn không thể chân thật thâm nhập, nỗ lực thực hiện, ngược lại còn chấp vào việc nghe Kinh, thường xuyên đi giảng Kinh, quên mất đi “đôn luân tận phận”, ngay cả những việc nhà vua phải nên làm mà cũng lãng quên mất. Phải lâm triều, phải xử lý việc triều chính, phải thấu hiểu nổi khổ của người dân, áp dụng đúng lúc sự nhân từ bác ái. Kết quả cuối cùng trở thành đích thân vua Lương Vũ Đế thường xuyên đến chùa Đồng Thái giảng Kinh Phật, sau đó thì bá quan cũng không hội họp ở trong triều đình nữa, tất cả đều đội mũ cao, mặc quan phục, đều đi đến chùa nghe vua Lương Vũ Đế giảng Kinh. Mỗi ngày đều giảng về những đạo lý của chữ “không”. Thật ra người háo danh rất khó giảng được rõ ràng về cái lý của “không”, tâm phải thanh tịnh thì mới có thể giảng được rõ ràng cái chân tướng của vũ trụ. Cái tướng “không” này kết quả là trở nên chấp trước, việc triều chính không lo, quân đội không tập luyện, không áp dụng chính sách của quốc gia. Sau đó thì một vị quan cấp dưới kêu gọi Hậu Cảnh làm phản, đem binh đến đánh. Kết quả là từ Thượng Thư Lang trở xuống tất cả đều không biết điều khiển binh lính, bỏ chạy tán loạn, thậm chí là trên đường chạy trốn số người chết nhiều vô cùng.

Các vị xem, chểnh mảng việc xây dựng quốc gia, kết quả là tai họa chiến tranh, tử vong nghiêm trọng. Vì vậy, rất nhiều vị tu hành chân chánh nhắc nhở chúng ta tu hành không phải rơi vào chỗ “KHÔNG”. Trong cái hư danh này nhất định phải thực hiện từ “đôn luân tận phận”, từ việc tận hết bổn phận của chính mình. Không tận hết bổn phận thì chúng ta không thể là một tấm gương tốt cho xã hội, vậy thì làm sao có thể hoằng truyền giáo lý Thánh Hiền. Phải làm việc tận hết bổn phận để người trong thiên hạ nhìn thấy. Người tu hành tất cả là, làm việc gì ra việc đó; làm mẹ thì đó là một người mẹ tốt, làm lãnh đạo thì đó là một vị lãnh đạo giỏi, làm thầy giáo thì đó là một vị thầy tốt, làm bác sĩ thì đó là một vị bác sĩ lấy từ bi làm gốc. Mọi người vừa nhìn thấy liền nói: “Người học giáo lý Thánh Hiền quá tốt!, xem họ là tấm gương.

Kết quả là vua Lương Vũ Đế và người con bị Hậu Cảnh ép cho đến đói mà chết, không có gì để ăn. Sau này, con trai của ông là Hiếu Nguyên Đế kế thừa, lên ngôi vua ở Giang Lăng, một vùng của Hồ Bắc. Kết quả là ông lại tiếp tục giảng “Lão Tử”, ở đó giảng liên tục. Bá quan mãi nghe ông giảng, kết quả là một bộ tộc khác ở phương bắc kéo quân đến đánh chiếm Giang Lăng, vua tôi đều bị bắt giam vào ngục. Người có học thức lúc đó là Dữu Tín cảm thán tể tướng đem quốc gia đại sự làm trò đùa. Những lời nói suông này được xem là dành cho các quan chức có thể dùng để giải quyết những chính sách quan trọng của quốc gia, chính là đàm huyền thuyết diệu, có thể dùng để giải quyết những chính sách quan trọng của quốc gia. Cho nên Đường Thái Tông nói đến chỗ này, ông nói, những tình huống này thực tế đáng lấy để làm gương, vậy thì việc ông học những Kinh điển này trở thành việc háo danh, còn nói cho mọi người nghe không có nhấn mạnh việc thực tiễn. Do đó, việc háo danh là một tai họa rất lớn.

Các vị xem, đưa ra những ví dụ này không phải là hủy hại quốc gia hay sao? Vì vậy Đường Thái Tông nói đến: “Điều tôi yêu mến là đạo của Nghiêu Thuấn, là giáo của Chu khổng. Đây là những lời giáo huấn rất hay để trị thế”.

Đương nhiên hiểu được chính xác lời giáo huấn của Lão Tử và Thích Ca Mâu Ni Phật thì nhất định sẽ quản lý tốt đất nước, chỉ là do họ hiểu sai mà lại háo cái hư danh, như vậy sẽ có tai họa. Cho nên Đường Thái Tông nói đến: “Đã có những lời giáo huấn của Chu Công, Khổng Tử, Nghiêu Thuấn rồi, ông như chim thêm cánh, như cá gặp nước, hơn nữa nhất định không rời xa những lời giáo huấn này phút giây nào”. Cá rời xa nước thì không thể sống. Điều này là vào năm Trinh Quán thứ hai, Thái Tông cảm hứng nói ra. Chúng ta tiếp tục xem câu tiếp theo, trang 333.

Chúng tôi vừa nói đến, việc tu hành phải bắt đầu từ “đôn luân tận phận”. Đã từng gặp gỡ một số đồng đạo, nghe họ kể có những người tu hành. Ví dụ như đang làm bà chủ gia đình, việc nhà không quản, nói phải đi tu, kết quả là làm cho gia đình bất an. Điều này ngược lại đã làm cho xã hội đại chúng hiểu sai về Kinh điển, hiểu sai về giáo lý Thánh Hiền. Thực tế là tôi đã gặp một trường hợp đã làm cho tôi nhìn thấy mà giật cả mình, hơn nữa là một vị  Phó Cục Trưởng Giáo Dục của một địa phương nói với tôi. Vị Phó Cục Trưởng giáo dục này nói: đây chúng tôi có một vị lãnh đạo của một nhà trẻ, công việc của nhà trẻ không chịu quản lý, đi đến một ngôi chùa cổ ngàn năm để tu hành. Nói là tu hành ở ngôi chùa cổ ngàn năm làm việc lành thì công đức lớn. Sau đó thì ở nhà trẻ rối loạn lên, mấy trăm em học sinh không lo quản lý”. Cái hiện tượng này có thể là cô ấy chưa nghe qua câu chuyện của vua Lương Vũ Đế, không có được điều răn. Điều này cũng là nhắc nhở chúng ta trong khi học tập văn hóa truyền thống, nhất định không nên lạc vào một đống lý thuyết, không áp dụng vào thực tế trong cuộc sống gia đình, trong công việc thì không tốt. Tạo nên sự hiểu lầm có thể làm mất cơ duyên của người khác nghe lời giáo huấn của Thánh Nhân.

Chúng ta xem đến câu tiếp theo ở trang 33 của quyển ba. “Cổ chi nhân viết”. Chúng ta cùng nhau đọc. Người xưa nói: “Một nông dân không canh trồng thì bá tánh phải chịu đói, một phụ nữ không dệt vải thì bá tánh phải chịu lạnh”. Vạn vật sinh trưởng đều có thời khắc nhân duyên, nhưng sử dụng không giới hạn tiết chế, như thế tài vật chắc chắn sẽ cạn kiệt. Người thời xưa thống trị thiên hạ đến mức hết sức tường tận chu đáo, cho nên có thể nương tựa vào nguồn tích trữ đầy đủ của đất nước.

Chúng tôi xem đến đoạn này cũng rất cảm phục. Ngày xưa đối với việc trị quốc thì người ta đều có sự nhận thức chính xác, thậm chí cũng biết được nhổ một cọng tóc động cả toàn thân. Cả xã hội này là một thể, một người nông dân không lo canh tác cho tốt thì có khả năng cận kề với cái đói. Được rồi, xin cám ơn mọi người!

HẾT TẬP 18 – Xin xem tiếp tập 19 – Quần Thư Trị Yếu 360