QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 – TẬP 3

Chủ giảng: Thầy giáo, Tiến sĩ Thái Lễ Húc
Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Viên Đạt Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ
Thuyết minh: Hạnh Quang
Download toàn bộ MP3



Quần thư trị yếu 360 – Tập 3

Các vị trưởng bối tôn kính, các vị học trưởng, xin chào mọi người!

Vừa rồi chúng ta đã xem qua phần lời tựa do sư trưởng viết, nói đến mấu chốt của việc học tập nằm ở hai chữ “thành kính” mà dẫn đến thái độ hết sức xem trọng và thành kính đối với Kinh điển. “Khúc Lễ” viết: “Vô bất kính”. Chữ “vô” này có nghĩa là không có, không có một lúc nào có thể không giữ gìn thái độ cung kính này. “Trung Dung” nói: “Đạo dã giả, bất khả tu du ly dã, khả ly phi đạo dã”. Tâm thành kính này hễ mất đi, ngay lúc đó không còn là người đang tu đạo nữa, đó là tùy thuận tập khí, lạc vào trong tà đạo mất rồi, cho nên mọi lúc mọi nơi đều phải hết sức cung kính. Học vấn của lão tổ tông chính là: “Chủ kính tồn thành”. Mức độ thành kính càng cao càng có thể giữ gìn được sự tu dưỡng chân thật này, vậy chúng ta hiện tại ở nơi nào thì có thể không ngừng nâng cao sự chân thành cung kính của chính mình? Đều phải áp dụng vào trong cuộc sống thường ngày, nếu không thì tâm của chúng ta sẽ rất thô, đại bộ phận thời gian đều là có tính ứng phó, ngạo mạn làm chủ, vậy thì rất khó nâng cao chính mình.

Ví dụ trước khi chúng ta mở Kinh sách ra phải biết ơn giáo huấn của Thánh Hiền nhân, sau đó mới mở ra xem. Nên tập thành thói quen. Bao gồm việc mỗi ngày bạn súc miệng, chải đầu, rửa mặt xong bạn có thể hành ba quỳ chín lạy đối với cổ Thánh tiên Hiền, chí Thánh tiên sư. Đây đều là nuôi dưỡng tâm cung kính cho chính mình. Thậm chí là viết chữ đều phải cung cung kính kính để mà viết ra từng chữ một. Trong “Đệ Tử Quy” nói: “Chữ viết ẩu, tâm không ngay”. Trong văn hóa của Trung Hoa thì chữ viết cũng là một báu vật, trong chữ viết đó có hàm chứa trí huệ của cuộc sống. Bạn không thể khi viết chữ lại dùng tâm tán loạn mà viết, lúc này thì tâm cung kính liền không thể giữ gìn được, bao hàm việc viết thư cho người khác. Có lúc tâm chúng ta thô, viết thư cho người khác quá ẩu tả, đối phương cầm một lá thư đọc mà phải đoán bảy – tám chữ, không biết chữ đó nghĩa là gì. Việc này thể hiện chúng ta không đủ cung kính đối với người ta. Cho nên kỳ thực “Đệ Tử Quy” từ đầu đến cuối đều là tu tâm cung kính.

“Phàm nói ra, tín trước tiên”. Cung kính chính mình, lời nói đi đôi với việc làm, đây là tự mình cung kính. Câu này dễ làm hay không? “Không vấn đề gì không vấn đề gì”, ba ngày sau là quên mất rồi. Cung kính vẫn là phải biểu hiện nơi tất cả thái độ làm việc. Vừa nhận lời thì trước tiên phải ghi lại, không ngừng nhắc nhở chính mình không được quên. Đây đều là biểu hiện sự cung kính cụ thể của một con người.

“Thụ nhân chi thác, trung nhân chi sự”. Chỉ cần là sự việc đã nhận lời thì phải tận tâm tận lực là làm, tuyệt đối không thể qua loa được. Trước khi nhận lời thì phải suy nghĩ cẩn thận, sau khi nhận lời thì toàn tâm toàn lực mà làm, và còn phải cung kính đối với hết thảy vạn vật. Bàn ghế, đèn bảng bạn đều phải trân quý chúng, đó là cung kính. Ăn uống không nên xa xỉ, phải tiếc phước. Biết ơn bác nông phu, cảm ơn đại chúng, cho nên đích thực là “vô bất kính”.

Tiếp đến nói: “Tiền Thanh  Khang Hy viết”, nghĩa là Khang Hy Hoàng đế nói. Vị Hoàng đế Khang Hy này khiến cho chúng ta rất bội phục, họ là dân tộc Nữ Chân. Khi nhập vào Trung Quốc, học tập văn hóa Trung Hoa, thâm nhập văn hóa Trung Hoa vượt hơn cả người Hán, sự cống hiến đối với văn hóa vượt hơn cả triều đại Hoàng đế trước. Chúng ta xem họ có “Tứ Khố Toàn Thư”, “Tứ Khố Hội Yếu”, “Càng Long đại tạng Kinh”, đều là biên soạn từ thời Càng Long, nhưng vấn đề họ khiến chúng ta bội phục nhất là lấy thân làm gương. Bản thân hiếu học, thật sự học, thật sự làm, và còn dẫn dắt văn võ bá quan thâm nhập Kinh tạng. Tự mình ngồi ở phía trước để nghe giảng; trên làm thì dưới làm theo, cho nên triều Thanh tịnh hơn 100 năm hưng thịnh. Tuyệt đối không phải là ngẫu nhiên, cũng là từ việc họ thành kính đối với Kinh điển, và còn cả tâm thành kính đối với lão bá tánh. Hoàng đế Khang Hy nói: “Lâm dân dĩ chủ kính vi bổn”, luôn luôn cung kính yêu thương đối với lão bá tánh. Đây đều là giáo huấn của Phu Tử. Trong “Luận Ngữ”, Quý Khang Tử thỉnh giáo Khổng Phu Tử làm sao để lão bá tánh cung kính đối với ông, trung thành với ông, vả lại nếp sống trong xã hội mọi người có thể khuyên bảo lẫn nhau. Phu Tử đã trả lời là: “Lâm chi dĩ trang tắc kính”, ông muốn lão bá tánh tôn trọng thì trước tiên ông phải tôn trọng lão bá tánh. Hạ Thương Chu, Hạ Vương, Đại Vũ, đó đều là Thánh nhân. Họ tự mình lúc ở nhà quần áo đều rất giản dị, rất tiết kiệm. Khi lên triều thì họ vô cùng long trọng, mặc quần áo rất thận trọng. Đó là sự cung kính đối với văn võ bá quan.

Lão sư Lý Bỉnh Nam chiếc áo mặc bên trong chắp vá rất nhiều. Khi các học trò dọn dẹp lại di vật của Ngài thì nhìn thấy đôi vớ của Ngài đã được vá lại mấy mươi lần, nhìn thấy mà vô cùng cảm động, rơi cả nước mắt. Thế nhưng Lão sư Lý cũng là một quan viên, Ngài còn là một giáo sư, trong những lúc gặp gỡ mọi người thì ăn mặc rất trang trọng. Tại Liên Xã Đài Trung, trang phục Trung Sơn Ngài mặc khi đó vẫn còn lưu giữ trong viện bảo tàng, chúng ta nhìn thấy đều sẽ cảm thấy còn rất mới, mặc mấy mươi năm mà sao trông vẫn còn mới. Đó là trân quý đồ vật. Đối diện với đại chúng thì vô cùng cung kính, quần áo ăn mặc đều rất thận trọng, tiết kiệm. Tự mình ở nhà thì rất tiết kiệm, cho nên khi đối diện với nhân dân cũng là thái độ cung kính này. Vũ Vương làm như vậy, Khổng Tử dạy như vậy, bạn xem truyền đến đời nhà Thanh, Hoàng đế Khang Hy cũng có thể lãnh hội được những giáo huấn đó. “Tự kính nhi hậu nhân kính”, cung kính đối với người cũng là đang giữ gìn tâm cung kính của chính mình. “Thành dữ kính, thiên cổ tương truyền chi học, bất việt hồ thử”. Hoàng đế Khang Hy đã lãnh hội được tâm pháp tương truyền thiên cổ, chính là hai chữ “thành” và “kính” này, không thể vượt qua hai chữ này.

“Trình tử viết”, một đại nhà Nho thời Tống là Trình Tử đã nói: “Kính thắng bách tà”, cung kính thắng hơn hẳn. Chữ “bách” này là chỉ rất nhiều những tà tri tà kiến. Một sự cung kính thì đã có thể làm kinh sợ tất cả tà niệm. “Thuyết minh tu thân tiến đức”, là tu dưỡng đức hạnh. Cho đến: “Lợi thế tề dân”, trị quốc làm chánh. Sau đó giáo hóa bá tánh: “Duy ‘thành kính’ nhị tự”, trọng điểm là nằm ở tâm thành kính. Có tâm thành kính này rồi: “Phương năng viên thành”, thì mới có thể làm được viên mãn sự nghiệp học vấn và lợi dân.

“Nhược đối cổ Thánh tiên Vương chi giáo huấn hào vô thành kính, tung biến lãm quần tịch, diệc nan hoạch thực ích”. Sư trưởng đã nói nếu như đối với những giáo huấn của cổ Thánh tiên Vương mà không sanh khởi được sự thành kính, cho dù đọc hết tất cả những quyển sách này thì cũng rất khó mà có được lợi ích chân thật. Khổng Tử viết: “Thuật nhi bất tác, tín nhi hảo cổ thị dã”. Thái độ cầu học này của Phu Tử: “Thuật nhi bất tác”, đó là đối với giáo huấn của cổ Thánh tiên Hiền vô cùng tôn sùng, vả lại cũng không có xen tạp cái ý của riêng mình, là không ngạo mạn, khiêm bi.

“Khiêm tắc thụ giáo hữu địa, cử thiện vô cùng”, nghĩa là không hoài nghi giáo huấn của Thánh Hiền nhân, cho nên không ngạo mạn và không hoài nghi, tâm thành kính này mới hiển hiện ra. Hễ vừa tham – sân –  si – mạn – nghi thì thành kính liền không còn nữa. Cho nên hiện tại vì sao mà cầu học vấn lại khó khăn. Khi hoài nghi đối với cổ Thánh tiên Hiền, hoài nghi đối với sư trưởng, thì rất khó được lợi ích. Vả lại hiện tại con người cuồng vọng, bản thân biết được không nhiều nhưng lại đi phê phán Thánh Hiền, liền bảo Thánh Hiền nói có nhiều cái còn sai. Nếu là sai thì đâu thể nào tồn tại được mấy nghìn năm. Nhưng mà có sự ngạo mạn và hoài nghi này của họ thì họ không thể thâm nhập vào trong trí huệ của Thánh Hiền. Cho nên tám chữ này Ngài Khổng Tử có thể làm được một cách lão thật; chịu nghe lời, thật làm. Ngài chân thật tin tưởng, chân thật chịu nghe lời. “Tín nhi hảo cổ”; chữ “hảo” này là thật sự đi phụng hành, thật sự noi theo.

Đoạn kết tiếp nói: “Quá khứ Tôn Trung Sơn tiên sinh ư Tam Dân chủ nghĩa giảng diễn trung ‘dân tộc chủ nghĩa đệ tứ giảng’ tăng vân”. Đã từng nói rằng: “Âu Châu đích khoa học phát đạt, vật chất văn minh đích tiến bộ bất quá thị cận lưỡng bách đa niên đích sự, giảng đáo chính trị triết học đích đế, Âu Châu nhân hoàn yếu cầu chi ư Trung Quốc”. Sự thể hội của Tôn Trung Sơn rất sâu sắc và cũng rất chính xác, chúng ta không cần nói gì khác. Sự nhấn mạnh trong văn hóa của chúng ta: “Cần kiệm vi trì gia chi bổn”, nhà và quốc gia đều như nhau. Người đọc sách nói là: “Lịch lãm tiền hiền quốc dữ gia thành do cần kiệm bại do xa”, bất luận là quốc gia, triều đại hay là gia đình thành tựu được là bởi cần kiệm, bại vong là bởi xa xỉ. Chúng ta thấy hiện tại có bao nhiêu quốc gia phá sản, có bao nhiêu gia đình thu không đủ chi, còn chưa kiếm được tiền thì đã xài tiền rồi? Đây là đã lệch lạc đi chánh đạo. Vả lại nếp sống như vậy, xã hội chủ nghĩa công lợi rất là lợi hại, chúng ta còn cảm thấy đây là một thứ mới mẻ, chúng ta phải nên bắt cho kịp trào lưu, thế là đã đi sai một cách nghiêm trọng. Thế hệ trẻ sau này vẫn còn chưa biết kiếm ra tiền thì đã xài rất nhiều tiền, có đến mấy cái thẻ tín dụng. Vì vậy, trí huệ triết học trong việc trị gia, trị quốc phải nên học ở Trung Hoa xưa.

Các vị xem Tôn Trung Sơn đã nói: “Chư quân đô tri đạo thế giới thượng học vấn tối hảo đích thị Đức quốc, đãn thị hiện tại Đức quốc nghiên cứu học vấn đích nhân, hoàn yếu nghiên cứu Trung Quốc đích triết học. Thậm chí ư nghiên cứu Ấn Độ đích Phật lý, khứ bổ cứu tha môn khoa học chi biên”. Các vị xem Tôn Trung Sơn tiên sinh hơn một trăm năm trước thì đã có được chỗ thấy biết như vậy rồi, đã nhìn thấy được sự thiên lệch trong tư duy của người Phương Tây đều phải nhờ vào triết học của Trung Quốc, Phật lý của Ấn Độ để mà điều chỉnh những thiếu xót sai lệch của họ. Chúng ta hãy xem đoạn kế tiếp. Đoạn vừa rồi khiến chúng ta đề khởi tín tâm, phải có lòng tin đối với văn hóa và giáo huấn của Thánh Hiền.

Đoạn kế tiếp nói: “Anh nhân Thang Ân Tỷ bác sĩ cánh vân”. Thang Ân Tỷ đã nói: “Dục giải quyết nhị thập nhất thế kỷ đích xã hội vấn đề duy hữu”. Mọi người hãy xem chữ “duy hữu” này, chính là duy nhất có thể nương vào “Khổng Mạnh học thuyết dữ Đại Thừa Phật pháp”. Các vị học trưởng, các vị có thể xem câu nói này thì có nghĩa là cuộc đời này đến đây là để cứu thế, nếu không thì chúng ta sẽ không được nhìn thấy câu nói này. Đây không phải là ngẫu nhiên. Cuộc đời này con người hiểu rõ được cái gì là quan trọng nhất, không làm thì lương tâm sẽ cắn rứt. Cũng giống như người thân, bạn bè chúng ta có khó khăn gì đó nghiêm trọng, chúng ta đều không đến giúp đỡ thì lương tâm của chúng ta sẽ cảm thấy cắn rứt, liền không biết sự vui sướng của cái gọi là “ngẩn đầu không thẹn với trời, cuối đầu không thẹn với người”. Con người hiện tại càng sống càng không thể cười nổi, căn bản vẫn là ở việc có rất nhiều việc lương tâm cảm thấy nên đi làm mà lại không làm. Có thể sẽ có người cảm thấy áp lực của tôi không phải là rất lớn; là áp lực mà cũng là động lực, còn phải xem một niệm trong tâm thái của chúng ta. Khổng Tử đều đã dạy chúng ta: “Nhiệm trọng nhi đạo viễn”. Chữ “trọng” này không phải là trọng lượng mà là “trọng” của quan trọng, biết kế thừa đạo Nho chính thống. Đây là sự việc quan trọng nhất của xã hội và dân tộc. Thể hội được điểm này toàn thân sẽ tràn đầy năng lượng, làm sao lại cảm thấy áp lực nặng nề chứ. “Nhân dĩ vi kỷ nhiệm”, lấy việc hoằng dương nhân ái đại đạo làm trách nhiệm, đây là sứ mệnh quan trọng. “Tử nhi hậu dĩ, bất diệc viễn hồ”, nếu làm thì phải làm cho tới cùng, cả đời này tận tâm tận lực.

Một người kể từ hôm nay bắt đầu biết được phương hướng mục tiêu cuộc đời của họ là một sự việc hạnh phúc biết bao nhiêu, mỗi một bước đi vững vàng thiết thực, rõ ràng minh bạch làm sao lại có áp lực cơ chứ. Cho nên ý niệm mà không đúng thì gọi là gây ra áp lực. Gây ra áp lực cũng gọi là phiền não. Trong việc tạo ra áp lực này thì nghiêm trọng nhất là hoài nghi chính mình. Bạn nói năng lực của tôi thật sự là không đủ, không sao, tôi cầu tổ tiên gia trì. Đây là Kinh điển đã dạy. Bạn xem chúng tôi gặp phải sự việc phát sinh, vẫn là phải dùng đến Kinh điển, không thể dùng quán tính của chính mình hay là phiền não tập khí của chính mình. Trong “Hiếu Kinh” đã nói với chúng ta: “Hiếu để chi chí, thông ư thần minh, quang ư tứ hải, vô sở bất thông”. Mỗi ngày lễ bái tổ tiên: “Tôi muốn làm người con hiếu của dân tộc”. Người của tất cả dân tộc đều là anh chị em của ta, phải dùng cái tâm hiếu để này để đọc sách, để làm việc, nhất định có cảm thông.

“Tịnh quan kim nhật thế giới loạn tượng phân trình, dục cứu thế giới cứu Trung Quốc, duy hữu Trung Quốc truyền thống văn hóa giáo dục, năng biện đáo”. Mọi người hãy xem Sư phụ viết lời tựa phần văn viết này, phải có thể thể hội được bi tâm của Sư trưởng; tâm tâm niệm đều là vì muôn dân, vì quốc gia dân tộc. “Lão tổ tông lưu truyền chí kim đích trị quốc trí huệ, lý niệm phương pháp kinh nghiệm dữ thành hiệu, quân thị lịch kinh thiên vạn niên khảo nghiệm, sở lụy tích đích bảo tạng kết tinh”. Chúng ta có trí huệ, lý niệm, phương pháp, kinh nghiệm cùng thành quả của 5.000 năm, dùng vào đâu vậy? Dùng vào thành quả to lớn của việc tề gia – trị quốc – bình thiên hạ, đời đời đều xuất hiện Thánh Hiền thịnh thế. Trong lịch sử Trung Hoa đã xuất hiện rất nhiều lần. Ai chịu thiệt thà y chiếu theo giáo huấn của Thánh Hiền để làm, có thiên tử như vậy thì đời đó sẽ thịnh thế. Cách chúng ta gần nhất là Thanh triều tộc Nữ Chân thống trị thì có thể ấn chứng. Họ vốn không phải là người Hán, nhưng ông đã dùng tâm thành kính của mình để lĩnh hội giáo huấn của lão tổ tông, lập tức sự thịnh thế liền hiện tiền, cho nên trị lý thiên hạ đều có thể có thành tựu. Chúng ta dùng ở trong gia đình và đoàn thể của mình nhất định không có vấn đề. Chúng ta ngày nay muốn người trên thế giới có lòng tin đối với văn hóa truyền thống; vừa rồi tôi đã nói hiện tại lòng tin có nguy cơ, vậy thì phải từ tự thân chúng ta. Cá nhân chúng ta là tấm gương người làm con, là tấm gương người làm vua, là người làm cha, làm mẹ người khác, là tấm gương trong mỗi một bổn phận, vậy thì mới có thể kéo theo lòng tin của người khác. Nếu như mối quan hệ vợ chồng của bạn rất tốt, có ai mà không mong muốn mối quan hệ vợ chồng được hạnh phúc hài hòa kia chứ? Họ nhìn thấy bạn thật sự đã làm được rồi, họ liền có lòng tin để mà học hỏi ở bạn. Học tập Kinh điển, đoàn thể của bạn rất đoàn kết, sự nghiệp vô cùng hưng vượng, vậy thì những đồng nghiệp của bạn, thậm chí là những ngành nghề khác đều sẽ học tập theo bạn. Điều này thì chủ tịch hội đồng quản trị, ông Hồ Tiểu Lâm đã làm được rất tốt. Gồm cả việc trung tâm đã từng mời ông Đổng sự trưởng Hách Thiết Long của chúng ta. Sự nghiệp hiện tại của họ đều là đang tăng lên gấp bội, cho nên đích thực là “người được lòng dân thì được cả thiên hạ”; “thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa”, không những yêu thương nhân viên của họ, mà còn vì xã hội đã làm ra rất nhiều sự cống hiến. Những tấm gương này của họ xuất hiện đã kéo dậy được lòng tin của rất nhiều đoàn thể trong xã hội, tiếp đến là noi theo. Cho nên xã hội hài hòa từ tâm ta bắt đầu làm, từ gia đình ta bắt đầu làm, từ làng xã của ta bắt đầu làm, từ khu vực chúng ta bắt đầu làm, từ xí nghiệp đoàn thể của chúng ta bắt đầu làm, tiến thêm bước nữa là từ đất nước của mình mà làm. Nói đến quốc gia thì Malaysia chúng ta là quốc gia đa chủng tộc, đa tôn giáo, có thể thực tiễn được văn hóa truyền thống thì đã làm tấm gương tốt cho việc hài hòa tôn giáo, hài hòa chủng tộc trong thiên hạ. Việc này có nghĩa là đã đóng góp rất lớn cho cả thế giới. “Quần Thư Trị Yếu” chí trân chí quý, quả năng thâm giải lạc thực, thiên hạ thái bình, cá nhân hạnh phúc, tự nhiên khả đắc. Việc này đã nói một cách rất khẳng định, bởi vì trong mấy nghìn năm nay biết bao triều đại và gia đình đã chứng minh. “Bội đạo nhi hành giả, tắc bất miễn tự chiêu tai ương, họa hoạn vô cùng”, người được đạo thì được nhiều giúp đỡ, người mất đạo thì ít được giúp đỡ. Người mất đạo thì tạo nghiệp chướng, vậy thì sẽ rất khó mà không cảm chiêu tai họa kéo đến, họa hoạn có thể sẽ vô cùng nhiều.

Sư phụ đã nói: “Thâm tri kim nhật “Quần Thư Trị Yếu” chi trọng hiện, thực hữu kỳ thần thánh sứ mệnh”. Bộ sách quý này có thể xuất hiện trở lại là nhờ uy đức của tổ tông, đương nhiên những con cháu như chúng ta thì phải tiến bước nữa chăm chỉ học tập, sau đó làm ra sự ảnh hưởng tốt đối với xã hội, khởi động nếp sống tốt đẹp cho xã hội. Hoàng đế nếu muốn giáo hóa dân chúng không gì khác ngoài học, chính là phải dạy học. Dạy trước tiên là trên làm dưới theo, chúng ta tự mình dẫn đầu; ở trong gia đình, trong đoàn thể làm cho tốt. Nghe đến bộ sách này có lẽ đều là có một sứ mệnh thiêng liêng nào đó trong cuộc đời này.

“Hoan hỷ ủy thác thế giới thư cục trùng tân ảnh ấn xuất bản nhất vạn sáo, nghĩ tăng lưỡng ngườiạn tam địa tức thế giới các quốc, các đảng, các cấp lãnh đạo, cộng đồng học tập, tắc hòa hài xã hội, đại đồng chi trị đích thế giới chỉ nhật khả đãi”. Cho nên Sư trưởng cũng là tận hết khả năng vì quốc gia dân tộc, vì thế giới mà phụng hiến, ra sức tận lực.

“Hân kiến “Quần Thư Trị Yếu” trùng tân xuất bản tại tức, diêm xuất nhân giả thuộc dư vi thứ, cẩn dĩ thử số ngữ, biểu tùy hỷ tán thán chi ý”. Sư trưởng nhìn thấy người phụ trách thế giới thư cục của chúng ta là bà Diêm Sơ đã nghiêm túc sắp bản in ấn loát bộ sách này, cũng bày tỏ sự tùy hỷ. Chúng ta cầu học vấn phải thường có thể đề khởi được một cái tâm tùy hỷ, không thể đề khởi tâm đố kỵ. Mà sự tùy hỷ này, tôi tin rằng cũng sẽ đem lại sự khích lệ đối với người thực hiện.

Tiếp theo, chúng ta cùng xem Ngụy Trưng đại nhân viết lời tựa cho “Quần Thư Trị Yếu”. Vừa mở đầu đã viết: “Bí thư giám cự lộc nam, thần Ngụy Trưng đẳng phụng sắc soạn”. “Bí thư giám” là Ngụy thừa tướng, là quan chức vào lúc đó. “Cự Lộc Nam” là chức vị được tấn phong. Ngày xưa công hầu Bá Tử Nam là tước vị được phong, về sau con trai của ông cũng được thụ phong chức “Cự Lộc Nam” này. Mà Ngụy thừa tướng đáng quý là ở chỗ nào? Ông đã thỉnh cầu hoàng thượng không nên phong chức cho con trai của ông mà hãy phong chức cho con trai của anh trai ông. Cái khí phách đó của ông đã khiến tôi bội phục. Loại tình cảm anh em đó, bao gồm cả việc Khổng Tử tìm đối tượng cho con gái của anh trai; tìm người vừa có học vấn, vừa có tình trạng gia đình tốt. Tìm cho con gái của chính mình thì có học vấn nhưng gia cảnh thì tương đối không tốt cho lắm, điều tốt đều nhường cho anh chị em. Ngụy thừa tướng làm đại biểu điều này thật là đáng quý! Mọi người cùng nhau tiếp nhận mệnh lệnh của Hoàng đế, thừa lệnh để biên soạn. Ngụy thừa tướng có thể nhận được sự trọng dụng của Đường Thái Tông, đây là huệ nhãn của Đường Thái Tông. Cho nên trong “Quần Thư Trị Yếu” có nhắc đến một đoạn “Thượng Thư”: “Hữu bất thế chi quân, bí năng dụng bất thế chi thần”. “Bất thế” chính là không giống với người thế gian, chính là vị quân vương siêu phàm mới có thể dùng được đại thần siêu phàm. Vả lại: “Dụng bất thế chi thần, bí năng lập bất thế chi công”, ông đã dùng đúng người nên đã có thể lập ra được công trạng siêu phàm. Đường Thái Tông dùng Ngụy thừa tướng, trinh quán chi trị đã thành tựu rồi, còn biên soạn ra bộ sách quý báu lợi ích cho hậu thế. Mà Ngụy thừa tướng cũng là tấm gương trung thần.

Các vị xem, ông đã báo đáp cái ơn tình tri ngộ của Thái Tông Hoàng đế. Tần Chiết liền viết hơn 200 phần, viết mỗi phần đều phải suy nghĩ kỹ càng, vậy các vị xem hơn hai trăm phần đó là Tần Chiết ông đã bao nhiêu đêm phải chăm đèn, lo lắng hết lòng là vì vua vì nước. Cho nên ông thật sự là tận hết lòng trung thành của mình cùng với trí huệ để hồi báo Hoàng thượng. “Quần Thư Trị Yếu” đặc biệt thể hiện rõ đạo nghĩa vua tôi, mà Thái Tông và Ngụy đại nhân họ đã biểu diễn được một cách tinh tế sâu sắc. Sau khi Ngụy Thừa tướng qua đời, Đường Thái Tông quá đau lòng bãi triều suốt năm ngày. Sau năm ngày mà vẫn không lấy lại được tinh thần, không có cách nào thượng triều, rất là cảm thán mà nói “lấy đồng làm gương chỉnh được quần áo, lấy xưa làm gương biết được hưng vong, lấy người làm gương biết chuyện được mất”. Ngụy đại nhân đã đi rồi, ông “lấy người làm gương”. Tấm gương này đã mất rồi, ông vô cùng đau lòng.

Chúng ta cùng xem lời tựa: “Thiết duy tải tịch chi hưng, kỳ lai thượng hỷ”. Chữ “thiết” này chính là ý của bản thân thừa tướng. “Thiết duy”;  “thiết” là tư duy, nghĩa là vi thần cho là, vi thần cho rằng. Chữ “tải” này là chỉ ghi chép, ghi lại. Chính là lịch sử các triều đại đối với Kinh sách, đối với lịch sử đều là vô cùng xem trọng, đều là dùng tâm để kế thừa, dùng tâm để ghi chép. Lịch sử các triều đại này đều là như vậy. Cho nên “kỳ lai thượng hỷ”, những quyển cổ thư này truyền thừa lại, ghi chép lại. Chữ “thượng” này chính là vô cùng xem trọng, vô cùng tôn sùng.

Tiếp theo nói: “Tả sử hữu sử, ký sự ký ngôn, tả sử ký sự, hữu sử ký ngôn”. Đây là trong bài “Lễ ký – Ngọc Tảo” có viết. Mà “Hán Thư – Nghệ Văn Chí” thì nói: “Tả sử ký ngôn, hữu sử ký sự”. Chẳng qua việc này chính là nói với chúng ta phải đặc biệt xem trọng việc ghi chép lại những giáo huấn tốt đẹp này, ghi chép những sự đáng quý này lại để khởi phát cho người đời sau. Ở trong “Quần Thư Trị Yếu” thì đề cập đến trong “Sử Ký” có nói: “Thiên tử vô hý ngôn”. Thiên tử là không thể nói lời nói đùa giỡn được. “Ngôn tắc sử thư chi”, vì vừa nói ra thì quan chép sử đã ghi chép lại rồi. Sau đó: “Lễ thành chi, nhạc ca chi”, những sự việc mà ông nhận lời thì đều dùng lễ nghĩa để mà hoàn thành nó. Bởi vì ông nói ra là phải làm, cho nên bá tánh bội phục đức hạnh của ông, sau đó còn dùng những bài hát để ca tụng cái đức của thiên tử. Cho nên làm Hoàng đế không hề đơn giản; vừa mở miệng, bên trái thì ghi lại việc làm, bên phải thì ghi lại lời nói. Nhưng mà cũng chỉ có như vậy thì một người ở quyền vị tối cao mới không dám buông lung theo dục vọng, vì sao vậy? Vì: “Ta không thể để tiếng xấu cho nghìn năm sau”. Cho nên đối với một người lãnh đạo kế thừa, tiếp nối những cổ thư lịch sử này lợi ích hậu thế, đồng thời tự mình chịu trách nhiệm với chính mình, chịu trách nhiệm đối với lịch sử. Đây là thái độ đáng quý của người xưa. Bạn xem, người hiện tại chúng ta cuộc đời thường hay phung phí như vậy, lãng phí thời gian như vậy, còn kém rất xa đối với người xưa.

Tiếp đến lại nói: “Giai sở dĩ chiêu đức tắc vi, khuyên thiện trừng ác”. Ghi chép lời nói việc làm lại mục đích để làm gì? “Chiêu đức”. “Chiêu” là nổi bật, thông qua những giáo huấn được ghi chép lại này và lịch sử được ghi chép lại, nổi bật vấn đề đạo đức. Ghi chép lời nói là lý luận, ghi lịch sử là biểu diễn ra những tấm gương thật sự đã làm được. Vả lại “tắc vi”; “tắc chính là ngăn chặn, “vi” chính là tà ác, là sai lầm. Những thứ không đúng này phải lấy đó làm gương, về sau không tạo nữa, không nên dẫm lên vết xe đỗ. Chữ “tắc vi” này là lấy việc trước để rút kinh nghiệm cho việc sau, vả lại có thể đi đến chỗ thưởng thiện phạt ác. Cái tốt thì phát dương lưu truyền, mọi người noi theo học tập; cái không tốt ghi chép lại, mọi người ngoài việc lấy đó làm gương không dám làm giống như họ.

Bạn xem, Đổng Trác loạn quyền, sau cùng lịch sử ghi chép lại, chết không có đất chôn. Chết rồi, lão bá tánh đã đào xác của ông lên để đốt làm đèn, hận ông đến tận xương tủy. Ông khi chết thương tích đầy mình. Có một thuộc hạ đem ông chôn xuống đất, thế nhưng sau khi chôn thì trời đổ mưa, sét đánh xuống. Cú sét đã đánh bể quan tài của ông, sau đó thì bị nước cuốn trôi đi. Cho nên làm nhiều điều bất nghĩa là tự đẩy mình vào chỗ chết, sau cùng đúng là ngay cả nơi chôn thân cũng không có vì đã tạo ra tội lỗi quá lớn, trời đất không dung. Một ví dụ như vậy thật sự là khiến cho người người đều lấy đó làm gương, bao gồm cả việc khi đó Khổng Tử viết “Xuân Thu”, “loạn thần tặc tử cụ”. Khổng Tử vừa viết tên họ thì nghìn vạn đời sau vẫn còn mang tiếng xấu, cho nên “trừng ác”.

“Cố tác nhi khả kỷ, huân phong dương hồ bách đại”, vào thời đại này, vào thời đó, hành vi của ông, việc làm của ông. Chữ “kỷ” này là có thể vì pháp luật, có thể vì việc người đời sau sẽ noi theo, cho nên đã mau chóng đem ghi chép trở lại, vậy thì họ mới như cơn gió xuân ấm áp, mới có thể truyền dương trăm đời. Cũng giống như hiện nay chúng ta đọc những sách lịch sử này vậy, mấy nghìn năm trước đều đọc được, đều có thể học tập. “Động nhi bất pháp”, hành vi của họ không phù hợp pháp lý, không phù hợp đạo lý. “Quýnh giới thùy hồ thiên tự”, cũng đem ghi chép lại. Chữ “quýnh” này nghĩa là rất rõ ràng, khuyên răn một cách rõ ràng, khuyên bảo người của mấy nghìn năm sau. Cũng giống như “Đệ Tử Quy” nói: “Thấy người hiền nghĩ việc hiền, thấy không phải hiền trong lòng phản tỉnh”, noi gương như vậy. Cho nên: “Thị dĩ lịch quan tiền thánh”, quan sát các đời cổ Thánh tiên Vương.

“Phủ vận ưng kỳ, mạc bất lẫm hồ ngự hủ”. Chữ “phủ vận” này ý nghĩa chính là thuận theo thời vận, chữ “ưng” này là gánh vác; “ưng kỳ” chính là gánh vác thiên mệnh, kế thừa ngai vị thiên tử. Mỗi một vị cổ Thánh tiên Vương đều thuận theo thời tiết nhân duyên. Sau khi tiếp nhận thiên mệnh, tâm cảnh của họ rất đáng quý. Chữ “lẫm” là cảnh giác sợ hãi, giống như gì vậy? Chữ “ngự hủ” chính là cầm dây cương đã mục hỏng để đánh xe ngựa, vậy thì phải hết sức cẩn thận, nếu không thì sẽ xảy ra vấn đề, cho nên không một chút nào dám buông lung chính mình. Đây đích thực là thái độ khắc cốt ghi tâm.

HẾT TẬP 3 – Xin xem tiếp tập 4 – Quẩn Thư Trị Yếu 360