QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 GIẢNG GIẢI – TẬP 34

Chủ giảng: Thầy giáo, Tiến sĩ Thái Lễ Húc
Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ
Thuyết minh: Hạnh Quang
Download toàn bộ MP3



Quần thư trị yếu 360 – Tập 34

TU THÂN – TỀ GIA – TRỊ QUỐC – BÌNH THIÊN HẠ

Các vị xem, ngày trước người làm ăn buôn bán dù bận rộn vẫn phải ghi sổ, hàng hóa để theo vị trí. Bất kỳ một tình huống nào xảy ra đều là nhắc nhở chúng ta làm người, làm việc vẫn chưa đạt, không phải là việc xấu. Nhưng mà nếu như gặp phải rồi mà chúng ta lại chỉ trích, trách móc, thậm chí là đối lập, vậy thì cái sai đó càng ngày sẽ càng quá đáng. Cho nên cái “phản thân”, phản cầu chư kỷ này quan trọng. Mà cái thói quen này không nuôi dưỡng, đến lúc nào đó không biết phải tốn bao nhiêu công sức và thời gian mới bù đắp lại được, cho nên tập thành thói quen làm người xử sự tốt thì rất là then chốt.

Ví dụ như xử sự thì phải “trừng phẫn”, phải nhẫn cho được tính khí, “nhẫn được tức giận một lúc, tránh được nỗi lo trăm ngày”. Giả như sự tức giận không nhẫn được, xung đột rồi; gia đình xung đột rồi, đoàn thể xung đột rồi, nếu muốn đem nó hàn gắn lại thì cũng không biết phải tốn bao nhiêu thời gian. Khi gặp phải sự việc gì mà có thể “phản thân”, phản cầu chư kỷ thì sự việc này sẽ không bị trầm trọng đi, sự việc này sẽ chuyển thành sự lắng lòng cho mỗi người, thậm chí là mỗi người sẽ phản tỉnh điều chưa được của chính mình. Cho nên người xưa đã nói: “Người người tự trách thì trời yên gió lặng, người người trách nhau thì trời long đất lỡ”.

Lúc trước, chúng tôi có kể qua hai cặp vợ chồng sống ở đối diện nhau. Cặp vợ chồng hòa hợp thì mỗi khi gặp phải việc gì vợ chồng cũng là tự phản tỉnh bản thân trước, cặp còn lại thì “cãi vã hai ngày một trận nhỏ, ba ngày một trận lớn”, bất kể một sự việc nhỏ nhặt nào phát sinh thì nhất định là trách người kia trước. Cho nên, hạnh phúc hay không có mối liên quan đối với thái độ xử sự của chúng ta. Mà “phản thân” ở trong “quân đạo”; người làm vua là người đứng đầu một nước, tâm thái của họ có thể ảnh hưởng đến các thần dân, gọi là “trên làm dưới theo”. Mà sau khi tâm cảnh của họ ảnh hưởng đến quảng đại nhân dân; tâm cảnh của họ tốt thì tâm của lão bá tánh đều thiện, gây tạo phước lớn. Người lãnh đạo có tâm ác, lão bá tánh cũng học theo họ, vậy thì cái đoàn thể này, quốc gia này liền sẽ có đại họa. Cho nên trong “Đại Học” có nói: “Một nhà nhân, một nước hưng nhân. Một nhà nhượng, một nước hưng nhượng. Một người tham lam, một nước làm loạn”. Nghiêu Thuấn dùng nhân từ để dẫn dắt thiên hạ mà thiên hạ làm theo, Kiệt Trụ dùng bạo ngược trị thiên hạ thì thiên hạ cũng học theo”, cho nên cấp trên có sức ảnh hưởng đến cả đoàn thể, đến vận mạng của đất nước.

Các vị quân vương trong các triều đại của chúng ta, họ noi gương theo ai vậy? Gần thì noi theo vị tổ khai quốc lập triều của họ. Bởi vì sự gian nan khi lập nghiệp thật sự là không dễ dàng. Xa thì noi theo cổ Thánh tiên Vương của dân tộc. Cho nên Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thương, Văn, Vũ, Chu Công, những tấm gương của họ thật sự là rất đáng quý, những vị vua hai – ba nghìn năm sau còn noi gương học theo những quân vương này. Noi theo, kỳ thực cũng là hy vọng tự mình thành Thánh vương.

Chúng ta xem câu ba mươi, quyển thứ tư, trang 533. Tích Thành Thang tao hạn”, trong quá khứ khi vua Thành Thang còn tại vị gặp phải hạn hán. “Dĩ lục sự tự trách viết”, từ trên sáu sự việc mà phản tỉnh, kiểm điểm chính mình. Người xưa họ rất rõ lý, họ biết được chân tướng vũ trụ nhân sanh là trời người hợp nhất, toàn bộ tình trạng của đại tự nhiên và nhân tâm là phối hợp chặt chẽ. Làm thiện thì giáng trăm điều may, bất thiện mới giáng trăm điều tai ương. Thang vương đã phản tỉnh: “Chính bất tiết da?”, nghĩa là phương pháp, thái độ của việc trị lý chính sự có phù hợp với pháp độ chính xác hay không, chính là có phù hợp với những Kinh điển này hay không, những tấm gương Thánh vương này hay không? Cho nên trong “Hiếu Kinh” đều có nhắc đến: “Không phải đức hạnh của Tiên vương thì không dám hành, không phải pháp ngôn của Tiên vương thì không dám nói, lời nói việc làm phải phù hợp Kinh điển. Nói cho cụ thể là phù hợp chân lý, không thể cứ đi theo những quan niệm tư tưởng sai lầm. “Sử dân tật da”, nghĩa là những việc đã làm có khiến cho lão bá tánh sinh ra oán hận hay không, quan tâm đến tiếng lòng của nhân dân. “Cung thất vinh da”; “cung thất” chính là nơi ở nơi làm việc của hoàng thượng, là nơi vua ở, nơi vua làm việc. “Vinh da”, chính là có xây dựng xa xỉ quá hay không. Những cung thất này xây dựng mà xây dựng quá xa hoa, đều là dùng tiền mô hôi nước mắt của lão bá tánh, làm như vậy thì đã không phù hợp với nhân đạo của người làm vua. Đem tiền mồ hôi nước mắt của lão bá tánh để hoang phí vậy thì nhân từ ở đâu?

Lúc trước chúng ta đã bàn đến Yên Tử và Tề Cảnh Công nói chuyện. Cảnh Công nhấn mạnh làm sao để dân giàu, dân an? Yên Tử trả lời: “Người tự mình phải khắc chế dục vọng của mình, phải tiết dục thì dân mới giàu được. Người vơ vét tiền của thì đời sống của lão bá tánh liền không có vấn đề gì, cho nên “cung thất vinh da?” ở đây là có phải đã tiêu tốn quá nhiều tiền không cần thiết vào những công trình kiến trúc, rường cột chạm trổ.

Trong “Luận Ngữ”, Khổng Lão Phu Tử đã khen ngợi Đại Vũ (Vũ vương cũng là Thánh nhân). Phu Tử đã cảm thán rằng: “Vũ, ngô vô gián nhiên hỷ”, nghĩa là ta không thể tìm ra được việc gì của Đại Vũ mà có thể chê trách được, chính là nhân cách của Đại Vũ đã quá cao thượng. Đại Vũ ăn uống cũng rất đơn giản, rất tiết kiệm, nhưng khi tế bái tổ tiên thì lại vô cùng phong phú, cho nên ông là người rất có tâm hiếu đối với tổ tiên. Ông ăn mặc cũng rất giản dị, nhưng mà khi lên thượng triều, hoặc là khi đi tế bái, lúc đó ăn mặc rất long trọng. Tự mình khi ở nhà không có ai nhìn thấy thì ăn mặc đều là miếng vá này chồng lên miếng vá kia, lúc ở trên triều thì vô cùng tôn trọng quần thần, cho nên ăn mặc rất là chuẩn mực. Sau đó việc cúng tế tổ tiên thì cũng ăn mặc nghiêm chỉnh, nhưng nhất định không chịu tốn tiền để mua lấy những loại quần áo thường ngày cho chính mình. Việc này ngoài tiết kiệm ra, đối với quần thần đều có tâm cung kính, có hiếu, có kính.

Tiếp đến, Khổng Lão Phu Tử lại nói đến Đại Vũ là bi cung thất”, chính là nơi ở của ông rất tiết kiệm, rất sơ sài, đem tiền tài của quốc gia dùng vào việc cải thiện xây dựng thủy lợi cho lão bá tánh. Việc thủy lợi xây dựng càng tốt thì công việc cày cấy càng thuận lợi, từ đó thu nhập của lão bá tánh cũng không có vấn đề. Có hiếu, có kính, còn luôn luôn đồng cảm với cuộc sống của lão bá tánh, đây là tâm nhân ái. Cổ Thánh tiên Vương đích thực từ những chỗ này mà kiểm điểm chính mình.

Chúng ta nói đến chỗ này cũng nhớ lại, chúng tôi có mời bà Hứa Triết. Bà năm nay đã 114 tuổi, những thứ chính bà ăn, mặc, ở, sử dụng đều vô cùng đơn giản. Bà không bao giờ ăn uống đồ bổ dưỡng mà bà sống trường thọ. Mọi người có ai nghe đến việc, ngày ngày uống thuốc bổ, sau đó thì sống rất thọ hay không? Tôi thấy rằng, nếu nói là sống lâu thì đều không phải là nhờ uống thuốc bổ, đều là những con người rất nhân từ, gọi là “người nhân sống thọ”. Mấu chốt của việc sống lâu là “từ, kiệm, hòa, tịnh”, gọi là “nhân giả thọ”. Người nhân từ ý niệm vừa khởi, người khác vẫn chưa nhận được lợi ích nhưng thân tâm của chính mình đã được thái hòa. Cho nên trong “Luận Ngữ” nói: “Nhân giả thọ”, là có đạo lý. Lợi người nhất định là sẽ lợi mình.

Còn tiết kiệm thì rất quan trọng. Bà Hứa Triết rất tiết kiệm. Bà ở trong quyển tự truyện có nói, bà cảm thấy chính mình dùng nhiều thêm một đồng tiền thì giống như đang dùng tiền của anh chị em mình vậy, có thể khiến họ không có gì để ăn, cho nên bà nhất định không dùng tiền bừa bãi. Có một lần người ta quyên tiền, bà để ở trong ngăn bàn, kết quả bị ăn trộm lấy mất. Bà Hứa Triết lúc đó suy nghĩ là do bà không có cất tiền cho kỹ cho nên mới xảy ra việc này, bà cũng không trách đối phương. Những người có đức hạnh như vậy thì tâm cảnh “phản thân” của họ vô cùng thích đáng. Vả lại, bà nói sự việc này là do bà làm, cho nên từ hôm nay bà bắt đầu mỗi ngày sẽ ít ăn, ít dùng tiền, bà phải đem số tiền này bù trả lại. Đây là nghiêm khắc với chính mình. Vì vậy, nhất định là luôn luôn vì anh chị em trong thiên hạ mà suy nghĩ cho nên không dám dùng tiền bừa bãi. Tâm nhân từ này của bà cùng với nhân từ của cổ Thánh tiên Vương là tương ưng, vì thế đã có được sự tín nhiệm và quan tâm chăm sóc của tất cả mọi người đối với bà.

Tiếp theo, chúng ta xem “Nữ yết thịnh da”. Chữ “nữ yết” này ý nghĩa chính là chỉ những Phi tử được hoàng cung sủng ái. Những người phụ nữ này có lộng quyền làm mưa làm gió chính sự không? Mọi người xem, có một số triều đại sau khi phụ nữ can thiệp triều chính thì cả đất nước liền bại đi rất nhanh. Chúng ta xem, gần đây nhất là triều nhà Thanh, Từ Hy thái hậu đương chính. Hoàng đế triều Thanh đều đọc đủ thứ Kinh sách, đều rất dụng tâm, ba giờ sáng đã thức dậy, cho nên triều Thanh từ đầu đến cuối không có xuất hiện hôn quân, bởi vì đều đọc sách. Nhưng mà sau năm Hàm Phong, Từ Hy thái hậu nắm chính quyền, vốn dĩ có thói quen giảng Kinh điển của ba nhà  Nho – Thích – Đạo ở trong triều đình, đã giữ được cả trăm năm (hơn một trăm năm không thay đổi), kết quả sau khi Từ Hy thái hậu chấp chính thì thay đổi, không cho giảng nữa. Không giảng Kinh, tư tưởng quan niệm của con người liền có sai lệch. Phải luôn có người nhắc nhở mới được, cho nên người xưa nói “ba ngày không đọc sách, mặt mũi liền khó coi. Chúng ta hiện nay nếu một ngày không đọc sách thì đã khó coi rồi. Cần phải không ngừng huân tập thì mới có thể giữ gìn chánh niệm. Kết quả nếu không chịu nghe nữa thì tư tưởng quan niệm mỗi người liền bắt đầu trượt đi xuống, đọa lạc. Cuối cùng triều Thanh bị diệt vong, vả lại không phải là triều Thanh bị diệt vong thôi mà cả nền văn hóa truyền thống cũng không được hoằng dương. Bại một lần kéo dài cả một hai trăm năm, rất đáng sợ! Từ Hy thái hậu không nghe lời Kinh điển mà nghe thuật lên đồng, nghe lời quỷ thần, vậy thì càng quá đáng nữa rồi! Vào lúc đó không phải là đao thương bất nhập hay sao? Việc luyện đao thương bất nhập của Nghĩa Hòa Đoàn đều đã bị sai lệch đi rồi. Cho nên trong “Tả Truyện” có nói: “Quốc tương hưng, thính ư dân”, có thể hiểu được tiếng lòng của muôn dân, dùng tâm để yêu thương để chăm sóc thì quốc gia này sắp hưng thịnh rồi. Đất nước sẽ diệt vong vì nghe vào quỷ thần. Nghe nhân dân, kỳ thực chính là nghe “quân đạo”, nghe tinh thần nhân ái. Còn việc đi nghe quỷ thần; họ cũng không phải là người khai ngộ, lại không phải là người hiểu được chân lý, vậy thì càng nghe lại càng sai. Cho nên sự phản tỉnh thứ tư của Thương Thang đó là những người phụ nữ được sủng ái thì có lộng quyền hay không?

Kỳ thực, nam nữ hữu biệt. Nam chủ ngoại, nữ chủ nội, thê tử của quân vương chủ yếu phải trị lý tốt việc nội chính, nuôi dạy cho tốt thế hệ sau, họ tham gia chính sự thì sẽ không thể ở nhà giúp chồng dạy con tốt được. Thời đại ngày nay, phụ nữ đều ra xã hội kiếm tiền, vậy thì việc trong nhà ai sẽ chăm lo? Ông chủ gia đình sẽ phải lo, người nam phải chăm lo. Nam nữ vẫn là phải có sự khác biệt. Có thể sẽ có người nói: “Nhưng trong nhà tôi vẫn lo tốt, con cái của tôi tốt nghiệp tiến sĩ mà!, sau đó, tôi cũng lo việc chính trị rất nghiêm túc”, có người như vậy hay không? Có, nhất định là có, đích thực là làm cũng rất tốt. Họ có năng lực như vậy, nhưng vấn đề kế tiếp đã xuất hiện. Họ có năng lực này nhưng những người phụ nữ khác thì có năng lực này hay không? Người xưa nhìn xem sự việc không như nhau, họ không phải chỉ nhìn những vấn đề ở trước mắt. “Không luận hiện hành, chỉ luận thói xấu”, không luận nhất thời mà luận lâu dài, không luận bản thân mà luận thiên hạ. Trưởng tôn hoàng hậu có trí huệ hay không? Có. Bà có thể quản việc chính trị nhiều một chút có được không? Bà có trí huệ đó, có thể làm được, nhưng bà có quản hay không? Bà không có quản, vì sao vậy? Vì bà có trí huệ, bà có năng lực, nhưng bà không làm. Bởi vì nếu tạo ra cái tiền lệ này rồi về sau sẽ có thể xảy ra vấn đề xấu.

Mọi người xem Khổng Lão Phu Tử, học trò tốt đến bảy mươi hai vị. Bảy mươi hai vị này rất lợi hại. So về võ công thì không ai hơn Tử Lộ, so về năng lực ngoại giao thì không ai vượt qua được Tử Cống, so về đức hạnh thì không ai vượt qua được Nhan Tử, so về quản lý tiền bạc không có ai qua Nhiễm Cầu. Bảy mươi hai vị hiền nhân, 3.000 đệ tử, vào lúc đó nhân khẩu chỉ vài triệu người mà học trò của Ngài đã có đến 3.000 người tinh anh, xin hỏi vào lúc đó mà Khổng Lão Phu Tử làm chính biến thì có được hay không? Khổng Lão Phu Tử chỉ cần giương cờ khởi nghĩa thì thiên hạ không biết có bao nhiêu người đi theo Ngài. Khổng Lão Phu Tử vì sao lại không làm? Vì sẽ tạo tiền lệ xấu. Sau khi làm như vậy xong, về sau rất nhiều người có lòng tham sẽ nói Khổng Lão Phu Tử còn làm như vậy, thế là họ làm theo. Nếu như vì một quyền lực nào đó của chính mình mà đi làm những sự tình này thì vấn đề sẽ xảy ra.

Con người thời đại này rất nhiều sự việc kỳ thực chưa chắc có thể nghĩ đến được tương lai của nó sau này. Chúng ta lại suy nghĩ xem, người phụ nữ mạnh mẽ, mọi người đã gặp qua người phụ nữ mạnh mẽ hay chưa? Rồi. Xin hỏi mọi người, trong mười người phụ mạnh mẽ thì có mấy người được vui sướng? Hiện tại có rất nhiều người muốn làm người phụ nữ mạnh mẽ, nhưng mà sau khi làm rồi rốt cuộc có vui hay không thì dường như không có ai quan tâm. Rất nhiều người muốn mở công ty làm ăn, rốt cuộc mở công ty thì có hạnh phúc hay không cũng không biết, chỉ biết liều mình ra sức một mực đi về hướng đó. Tôi cũng chưa có đi điều tra qua những vấn đề này, có lẽ mọi người nên tự mình lắng lòng mà suy nghĩ lại xem. Dựa vào sự hiểu biết của tôi đối với các cô, nếu như người chồng mà không đồng tâm, cho dù các cô có nhiều tiền hơn thì các cô cũng không cảm thấy vui vẻ. Nếu như con cái của các cô không được dạy dỗ tốt, các cô là người giàu nhất thế giới thì tôi cảm thấy các cô cũng sẽ không lấy làm vui, bởi vì người phụ nữ đặc biệt coi trọng tình cảm, con cái là người thân cận nhất với họ lại không thể sống hòa hợp thuận hòa với họ. Bên ngoài bảo cho các cô những thứ khác để làm các cô hạnh phúc thì tôi không tin, thật sự là có cười được thì cũng chỉ là giả bộ thôi chứ không phải thật. Cho nên người xưa mấy nghìn năm nay nam chủ ngoại, nữ chủ nội là có đạo lý của nó. Đương nhiên, tôi nói những việc này các cô cũng đừng có về nhà rồi nói với chồng của mình “em muốn nghỉ việc”, đến lúc đó lại còn nói thêm một câu là việc này do thầy Thái nói, vậy thì tôi xong rồi. Tôi chỉ là phân tích cho mọi người nghe thử, sau đó vấn đề lựa chọn như thế nào là do mỗi người. Mà việc lựa chọn đó cũng phải tuân theo sự tuần tự tiến dần, không nên quá nóng vội. Kỳ thực tôi cũng đã nghe qua rất nhiều, vốn dĩ ở cương vị công việc cũng là người hô mưa gọi gió, sau khi bỏ hết trở về với gia đình, trong nội tâm của các cô càng lúc càng an vui, gia đình càng ngày càng hạnh phúc.

Tôi có một lần gặp được một cô gái ở Chiết Giang. Phụ nữ ở Chiết Giang rất là giỏi, năng lực làm việc rất tốt. Sau đó cô ấy nói, nghe được đạo lý ngũ luân này rồi cô ấy đã buông bỏ bớt công việc trở về giúp chồng dạy con, về sau cảm thấy tâm hồn được thoải mái hơn, thấy an ổn hơn. Đương nhiên việc ở nhà thì lại không đảm bảo về vấn đề kinh tế, việc này không thể nóng vội. Nhưng một điểm hết sức quan trọng, đó là tâm của bạn nhất định phải đặt ở gia đình, đặt ở con cái. Bây giờ không đặt vào gia đình và con cái, về sau có muốn đặt nữa thì cũng không còn cơ hội, cuộc đời gọi là hối hận quá, hối đến sau cùng rồi mới hận, vậy thì không tốt.

Tiếp đến là “bao tư hành da”. Chữ “bao tư” này là chỉ việc biếu tặng quà, nghĩa là cái tệ nạn hối lộ có phải là đang rất phổ biến hay không? Hễ có sự hối lộ thì nếp sống chính trị của cả quốc gia sẽ bại hoại, cho nên phải suy nghĩ lại có cái tệ nạn hối lộ này hay không? “Sàm phu xương da”, những người nói lời gièm pha có phải là càng ngày càng ngông cuồng hay không? Từ trên sáu điều này là phản tỉnh chính mình. Đương nhiên vừa phản tỉnh như vậy, vừa điều chỉnh, thì tai họa này liền có thể hóa giải được hết.

Năm Trinh Quán thứ hai, ở khu vực Quang Trung bị đại hạn hán. Quan Trung là một khu vực ở Thiểm Tây, Đường Thái Tông chính là người của vùng đất Thiểm Tây này. Bởi vì hạn hán nặng, Thái Tông liền nói với những thần tử ở bên cạnh mình, việc hạn hán không được điều hòa chính bởi vì người làm vua thất đức, người đó không có tu đức cho nên ông trời mới trách phạt. Ông nói: “Ông trời hãy trách trẫm, bá tánh nào có tội gì!. Việc này không nên trách bá tánh, sao lại để cho bá tánh phải gặp phải sự khốn cùng này chứ, cho nên bản thân họ cũng tự trách. Ông nghe tình trạng có người nào đó bởi vì quá nghèo mà đem con cái của mình đi bán, sau khi nghe được câu chuyện này ông vô cùng đau xót. Cho nên ông đã phái ngự sử đại phu Đỗ Yêm tìm hiểu tình hình, đem số tiền mà mình tiết kiệm được ở trong cung chuộc lại, sau đó đem trả lại cho cha mẹ của chúng. Thái Tông thật là hiếm có, không biết mọi người có còn nhớ hay không?

Một lần kinh thành bị nạn châu chấu (bị châu chấu hoành hành), vào lúc đó Thái Tông đích thân đi thị sát các đồng lúa. Lúc đó có rất nhiều châu chấu bay đến, kết quả khi Thái Tông nhìn thấy những con châu chấu này, đầu tiên đối với những con châu chấu này nói, “con người xem cốc loại là mạng sống, họ mà không có những thứ này để ăn thì rất khó để duy trì cuộc sống, nếu như các ngươi ăn hết những loại hạt cốc này, việc này là đã hại đến tất cả bá tánh. Mà nếu bá tánh có lỗi thì lỗi là ở chính một mình ta, các người không nên giáng họa vào bá tánh. Các ngươi nếu như có linh tri thì hãy đến mà ăn tim của ta, không nên ăn lúa gạo, không nên hại bá tánh”, lúc đó liền bỏ con châu chấu vào miệng mà nuốt. Vị quan ở bên cạnh liền nói: “Bẩm hoàng thượng, người ăn vào e rằng sẽ bị bệnh”. Thái Tông nói: “Ta chính là muốn đem cái tai ương này mang vào người của ta, vậy thì còn sợ bệnh gì nữa chứ. Kết quả sau đó nạn châu chấu hết đi rất nhanh chóng. Cho nên năng cảm là tâm, sở cảm là cảnh giới; ông là vua một nước lại có tấm lòng yêu thương bá tánh đến như vậy nên đã xoay chuyển được nạn châu chấu.

Chúng ta từ những câu chuyện thời Trinh Quán cũng có thể thể hội được khi Thái Tông xem “Quần Thư Trị Yếu” là xem rất nhập tâm, như vậy khi ông gặp việc mới có thể khởi được thái độ như vậy.

Tiếp theo chúng ta xem câu thứ 31, quyển thứ sáu, trang 782. Trong chú giải “Lục Thao” của Khương Thái Công, đây là một bộ phận của “Văn Thao”. Văn Vương hỏi Thái Công: “Thiên hạ nhất loạn, nhất trị”, nghĩa là thiên hạ có lúc hỗn loạn, có lúc trị vì rất tốt. “Kỳ sở dĩ nhiên giả hà”, rốt cuộc thì nguyên nhân gì đã tạo thành có lúc dễ trị vì có lúc lại hỗn loạn, có phải là vì đại tự nhiên biến hóa như vậy hay không? Đây không phải là sự biến hóa tự nhiên của đại tự nhiên, là nguyên nhân gì vậy? Kết quả Thái Công nói:  “Quân vương không hiền minh thì đất nước nguy nan, nhân dân loạn lạc. Quân vương hiền minh thì đất nước an ninh, nhân dân yên bình. Sự họa phúc của đất nước nằm ở việc quân vương có hiền minh hay không, không nằm ở sự biến hóa của thiên mệnh”.

Người làm vua không hiền minh vậy thì đất nước đó sẽ lâm nguy, còn nhân dân thì nhân tâm ly tán hỗn loạn, họ sẽ không có cảm giác an toàn. Vả lại, người quân vương không phải hiền minh rất có thể sẽ tham tài, tham sắc, vơ vét tiền của, vơ vét dân nữ, vậy thì người dân sẽ luôn sống trong lo sợ. Cho nên nói: “Quốc nguy nhi dân loạn”, nhưng mà quân vương hiền minh, “quân hiền Thánh” thì quốc gia yên bình. “Nhi thiên hạ trị”, chính là đời sống của nhân dân sẽ hạnh phúc trật tự, người dân nhìn vào vị quân vương sẽ tôn trọng giống như đối với cha mẹ vậy. Cho nên họa phước; họa phước của cả một quốc gia nằm ở việc vị quân vương hiền minh hay không hiền minh, không liên quan đến thay đổi của thiên thời hay vận mệnh, là liên quan đến hiền minh hay không. Phía sau Văn Vương cũng rất hiếm có, tiếp theo lại hỏi, “cổ chi hiền quân khả đắc văn hồ”, vậy thì quân vương gọi là hiền minh thì như thế nào? Việc nói rõ ở phía sau cũng giống như “Quần Thư Trị Yếu” mà lúc trước chúng ta đã nói, chính là “cách vật”, chính là “tiết dục”, không tranh tài vật với nhân dân, không coi trọng sự hưởng thụ cá nhân trong đời sống, sau đó còn đồng cảm với cuộc sống của người dân. Đây là hiền minh quân vương.

Cho nên lời của đoạn “Văn Thao” này cũng khiến cho chúng ta; ví dụ từ quốc gia mà nói, người lãnh đạo của quốc gia thì phải có sự kỳ vọng như thế, một sự phản tỉnh như vậy, người lãnh đạo trong một đoàn thể thì cũng phải nên có một sự tự yêu cầu như thế. Cho nên ở trong “Trung Dung” có một câu rất quan trọng: “Kỳ nhân tồn, tắc kỳ chính cử, kỳ nhân vong tắc kỳ chính tức”. Câu này ở phía trước còn có một đoạn là “văn vũ chi chính, bố tại phương sách”, nghĩa là chính sự chế độ có ích cho dân của Văn, Vương, Vũ, Vương đều có ghi chép trong Kinh điển. Nhưng chế độ tốt như vậy đời sau có thể sẽ không nhất định trị được tốt như vậy, chủ yếu vẫn là vị quân vương đó có đức để vận dụng chế độ hay không. Cho nên chế độ vẫn là thứ yếu, người làm quân vương có đức hạnh hay không, đó mới là mấu chốt. Ở đây nói: “Họa phước ở tại vua, không phải ở tại thiên thời”.

Tiếp theo chúng ta xem câu thứ 32, trong quyển thứ hai, trang 226. Khổng Tử nói: “Trách cứ mình phải nghiêm khắc, trách cứ người khác phải độ lượng, như vậy có thể tránh xa oán hận”. Trong câu này có chữ “hậu” và chữ “bạc”, đáng lẽ câu này phải ghi là “cung tự hậu trách, nhi bạc trách ư nhân”, nhưng mà chữ “trách” người ta đã lược bỏ, nghĩa là một người biết kiểm điểm chính mình đều là rất nghiêm khắc, kiểm điểm chính mình rất nặng. Ngược lại, nhẹ nhàng độ lượng đối với người khác gọi là “bạc trách ư nhân”. “Tắc viễn oán h, là có thể tránh xa được sự oán hận của người ta. Cái tinh thần này cũng chính là chúng ta thường nói, đó là thái độ “nghiêm khắc với mình, rộng lượng với người”. Mà ở đây cũng là đã bao gồm nhân tình sự lý. Chúng ta yêu cầu chính mình thì ít, yêu cầu người khác thì nghiêm khắc, thông thường người ta sẽ rất khó tiếp nhận, đều cảm thấy anh còn chưa làm được yêu cầu tôi, người ta không thể tiếp nhận được, cho dù lời chúng ta nói là đúng thì họ vẫn bài bác. Cho nên thái độ “cung tự hậu” này là rõ ràng phải nghiêm khắc đối với chính mình thì mới có thể gặp phải sự việc gì cũng không làm việc theo tình cảm, mới có thể làm việc bằng lý trí. Bởi vì một khi kiểm điểm, một khi chỉ trích người khác thì sẽ không lý trí, cho nên người có thể “cung tự hậu” thì rất rõ ràng tập khí của chính mình. Phải kiên quyết hạ công phu mới có thể đối trị. Còn “bạc trách ư nhân” thì họ rất hiền hậu, đối với người khác không hà khắc. Mà tinh thần sức lực của con người nếu như đặt vào việc nhìn người khác, vậy thì muốn nhìn chính mình cũng thật không dễ. “Công ư luận nhân giả, sát kỷ tất sớ”, cho nên vẫn là phải tự chấn chỉnh rồi mối đi cảm hóa người khác, phải tự cầu chính mình sau đó mới có thể lấy đức mà cảm hóa người khác. Nếu không thì toàn bộ tinh thần của họ, đặc biệt là người lãnh đạo hoặc giả là người làm quân vương đều dùng vào việc chỉ trích lỗi lầm của người khác, họ chính là người không có công phu. Từ trên bản thân mình rút ra sự sửa lỗi.

Trong “Lã Thị Xuân Thu” có một đoạn, gọi là “phàm sự chi bổn, tất tiên trị thân, thành kỳ thân nhi thiên hạ thành, trị kỳ thân nhi thiên hạ trị, vi thiên hạ giả, bất ư thiên hạ, ư thân”. “Lã Thị Xuân Thu” đoạn này vừa mở đầu, “phàm sự chi bổn”. Chúng ta chăm lo bất kỳ công việc gì đều phải từ căn bản hạ thủ. Căn bản bất luận là gia nghiệp hay sự nghiệp đều ở tại việc tu thân, ở tại việc tu dưỡng. “Đức giả, sự nghiệp chi cơ dã”, “đức giả, bổn dã”, cho nên thành tựu đức hạnh của chính mình. Quốc gia đó, đoàn thể đó, hoặc giả là quân vương mà đức hạnh của mình đã thành tựu rồi, quốc gia này thiên hạ liền an định. Cho nên, “thành kỳ thân, nhi thiên hạ thành, trị kỳ thân, nhi thiên hạ trị, vi thiên hạ giả, bất ư thiên hạ, ư thân”. Cho nên tất cả Kinh luận kỳ thực đều là phối hợp với nhau, “thân tu rồi mới gia tề, gia tề rồi mới quốc trị, quốc trị rồi mới thiên hạ bình. Chúng ta nhìn thấy câu nói này, cái này là “thiên hạ”, đó là quân vương có thiên hạ. Chúng ta có thiên hạ hay không? Mỗi một người đều có thiên hạ của chính mình, mỗi người đều có cái nhân duyên của cuộc đời này. Mà trên thực tế, cuộc đời này con người đã gặp phải tất cả người sự việc đều có mối liên hệ mật thiết với chính mình.

Trên “Dịch kinh” nói: “Phương dĩ loại tụ vật dĩ quần phân”. Tâm chúng ta thiện thì cảm đến rất nhiều nhân duyên thiện, tâm ác thì cảm đến là nhân duyên ác, cho nên bản thân phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với bản thân. Những câu Kinh này là nhắc nhở chúng ta, đây là thái độ quan trọng của đời người. Đời người kỳ thực là cảm ứng. Bạn mỉm cười với người ta, người ta sẽ mỉm cười lại. Bạn giữ gương mặt ủ rủ thì người ta cũng cười không nổi. Đạo lý giống như việc soi mình trong gương vậy. Chúng ta hôm nay soi gương, gương soi phản chiếu lại chính là thiên hạ của chúng ta. Vậy mọi người xem việc soi gương thấy rất khó coi, còn có sát khí, sau đó chúng ta còn nổi giận, đem đập bể kính đi, nhưng có giải quyết được vấn đề không? Đập bể rồi càng không thể soi gương. Cho nên không phải vấn đề nằm ở tấm gương soi, không phải vấn đề ở thế giới này, vấn đề nằm ở đâu? Là bản thân người soi gương chúng ta có vấn đề. Gương mặt vừa thay đổi thì trong gương không phải cũng thay đổi hay sao? Bởi vậy, là tâm thái của chúng ta không đúng phải không? Cái gương này đập bể nhiều hơn đi nữa thì vấn đề vẫn không được giải quyết. Cũng như trong quá trình trưởng thành của chúng ta, rất nhiều người tự làm xấu mặt của chính mình, vấn đề cũng chưa được giải quyết, về sau vẫn còn tiếp tục làm xấu, sau đó lại cảm thấy , có gì hay đâu chớ, đổi sang người bạn khác thì được rồi. Có gì hay đâu chớ, mình đổi sang một công ty khác thì được rồi. Kỳ thực người vì thiên hạ, không phải ở thiên hạ mà nằm ở chính chúng ta. Ngược lại là tất cả cảnh giới đều là nhắc nhở cho chúng ta, chúng ta tu dưỡng vẫn còn chỗ nào đó chưa tới. Có tâm thái như vậy thì ngược lại cảm ơn những cảnh giới này đã nhắc nhở chúng ta, thành tựu chúng ta, thì sẽ không cảm thấy cảnh giới đối lập với chúng ta, thậm chí là chúng ta còn chỉ trích. Được rồi, tiết học hôm nay giao lưu với mọi người đến đây thôi! Xin cảm ơn mọi người!

HẾT TẬP 34 – Xin xem tiếp tập 35 – Quần Thư Trị Yếu 360