QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 GIẢNG GIẢI – TẬP 36

Chủ giảng: Thầy giáo, Tiến sĩ Thái Lễ Húc
Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ
Thuyết minh: Hạnh Quang
Download toàn bộ MP3



Quần thư trị yếu 360 – Tập 36

TU THÂN – TỀ GIA – TRỊ QUỐC – BÌNH THIÊN HẠ

Tiếp theo chúng ta xem câu thứ 34, quyển số 2, trang 234, hàng đầu tiên. Đây là lời cảm thán của đức Khổng Tử. Chúng ta nhìn hàng đầu tiên, Khổng Tử cảm thán nói …. Chúng ta lật lại trang 233, xem một điển tích về Khổng Tử làm Bộ trưởng bộ Tư Pháp ở nước Lỗ, làm lãnh đạo cao nhất trong bộ Tư Pháp. Lúc đó có hai cha con đến kiện cáo (hai cha con kiện nhau ra tòa), sau đó Khổng Tử không có phán quyết ngay mà bắt cả hai người giam lại, đều nhốt vào ngục. Ba tháng trôi qua cũng không ngó ngàng gì đến, kết quả người cha đã chủ động thỉnh cầu, “tôi không kiện con tôi nữa”. Sau đó, Khổng Tử đã xá tội cho họ để cho hai cha con về nhà. Cháu nội của ông nghe được chuyện này đã không vui, “bất duyệt”, sau đó nói với Khổng Tử, “ông à, ông đã gạt cháu phải không? Trước đây ông đều bảo cháu, những người vì đất nước, trước tiên phải dùng đạo Hiếu để trị thiên hạ, vậy mà hôm nay đứa con đó bất hiếu như vậy, cha nó phải đi kiện nó, sao ông không xử phạt đứa con này để về sau người trong thiên hạ đều hiểu được đạo Hiếu. Khổng Tử nói: “Lục nhất bất hiếu”, nghĩa là cứ bất hiếu là đem đi giết để dạy người trong thiên hạ thực hành hiếu, điều này không phải là tốt sao, tại sao lại thả hắn ra chứ?. Mọi người thử suy nghĩ xem, nếu thật sự đem đứa con giết đi thì người trong thiên hạ có hiếu được không? Có thể bị sợ chết khiếp. Sau đó thì, “tôi phải đối xử tốt với cha mẹ tôi, nếu không tôi sẽ bị chém đầu”, vậy thì cái hiếu đó không phải là thiên tính rồi. Bởi vì, hiếu là thiên tính nên phải thuận theo nhân tính mà phát khởi ra mới đúng. Vì vậy, Khổng Tử cảm thán than là, “ồ! sao mọi người lại dùng phương pháp này?”. Sau đó Ngài nói: “Hỡi ôi! (một cách cảm thán), “thượng thất kì đạo”, nghĩa là người lãnh đạo không chịu làm gương tốt, cũng không dạy dỗ nhân dân. “Nhi sát kì hạ”, không dạy dân đạo hiếu. Hiện giờ người dân bất hiếu thì lại đem họ giết đi là “phi lí dã”, điều này không hợp lý. Bạn không dạy họ thì lỗi không phải là do họ, mà lỗi thuộc về trách nhiệm của những người làm lãnh đạo. “Bất giáo dĩ hiếu nhi thính k ngục, thị sát bất cô dã”, chúng ta không dùng hiếu đạo cảm hóa nhân dân, mà sau đó lại đi phán xét tội của họ, rồi đem họ nhốt vào lao ngục, thậm chí còn đem xử tử hình, đây chính là “sát bất cô”, giết người vô tội. Kỳ thực, giả như người này thực sự bị giết rồi, chúng ta thử nghĩ xem cha của anh ấy có vui không? Cha của anh ta là nhất thời tức giận, nếu con trai thật sự bị án tử hình, điều này có thể trở thành sự hối hận cả đời của người cha này, chỉ là sự nóng giận tức thời mà gây nên.

Dòng sông 5.000 năm lịch sử này, có người cha nào nói là, “tôi đã kiện con tôi khiến nó bị tử hình rồi, tôi rất vui sướng”, có không nào? Làm gì có chuyện con cái hư mà cha mẹ vui mừng chứ, hình như tôi chưa hề nghe qua. Điều này trái ngược nhân tính. Cho nên, cách làm này của Khổng Tử một mặt là để các vị lãnh đạo trước tiên phản tỉnh xem mình đã dạy dỗ dân chưa, nếu chưa dạy thì không thể xử phạt dân chúng được. Mặt khác là phải thấu hiểu lòng người, trong lúc xử án không chỉ có pháp luật mà còn nên cân nhắc về mặt tình lý nữa. Nếu không như vậy, đến lúc thật sự chấp pháp sẽ khiến dân chúng sau cùng hối hận cả đời cũng nên. Thậm chí, còn nên thông qua sự việc này nhắc nhở dân chúng, trấn an, giáo hóa nhân dân. Nếu dùng pháp luật giải quyết thì oán kết giữa hai bên mãi mãi không thể nào hóa giải. Nghe có vẻ rất là công bằng, “được rồi, ly hôn đi, tài sản này là của anh, phần kia của họ”, có công bằng hay không vậy, có công bằng nổi không? Xem ra có vẻ là làm theo luật pháp, nhưng trên thực tế trong lòng lại bất mãn, oán hận, đối lập, vẫn là không thể hóa giải.

Tôi có quen một người bạn làm luật sư. Khi người ta tìm đến anh ấy xin ly hôn, anh ấy đều ráng hết sức giúp họ hóa giải xung đột, chỉ khi nào hóa giải không được anh nói, “vậy các vị đi tìm người khác đi, tôi không thể giúp người khác ly hôn”. Đã khuyên giải rất nhiều cặp vợ chồng, nên vị luật sư này đã tích được âm đức. Giả như muốn có thành tích, khi người ta muốn ly hôn thì nhanh chóng giúp họ ly hôn, mặc dù kiếm được tiền, nhưng có thể đã tạo ra tội rồi. Điều này trong lịch sử đã có xảy ra.

Trong sách “những tấm gương đạo đức thời xưa” có một câu chuyện có thật về một người học vấn rất tốt, vợ của anh đều nhìn thấy trên đầu của anh ấy có ánh sáng, nhưng một lần nọ về đến nhà thì không thấy ánh sáng nữa. Vợ của anh rất kinh ngạc nói: “Hôm nay anh đã làm những việc gì?”. Anh nói: “Hôm nay có người nhờ anh giúp họ viết đơn kiện, anh giúp anh ấy viết xong thì ngày mai anh ấy sẽ đến tòa thưa kiện”. Người vợ đã hiểu ra. “Anh hãy mau mau lấy tờ đơn kiện đó lại đi”. Việc này là giúp người khác kiện cáo. Kết quả, anh ấy nghe xong rất kinh ngạc. Người vợ thì hiểu rõ sự việc. Anh ấy lập tức đi hòa giải, đem tờ đơn kiện ấy về, ánh sáng liền trở lại. Cho nên, họa phúc của con người đều ở trong một niệm.

Hình như tôi trước đây đã kể cho mọi người nghe một ví dụ, chúng ta nhân tiện đây nhắc lại lần nữa. Có một anh học trò họ Lý đi thi, trước khi vào trường thi anh ấy ở trọ tại một quán trọ. Khi anh vừa đến thì ông chủ đối với anh hết sức nồng hậu, phục vụ hết sức chu đáo. Anh ấy rất kinh ngạc, “ông chủ này mới gặp mình thôi mà sao đối với mình tốt như vậy”. Anh hỏi ông chủ. Ông chủ nói: “Tối hôm qua tôi nằm mộng, thần thổ địa nói với tôi người đỗ tiến sĩ năm này là một thư sinh họ Lý, hôm nay sẽ đến quán trọ của tôi. Anh hôm nay đã đến, vô cùng vinh hạnh!, nên đã chiêu đãi rất tốt. Người học trò họ Lý này đã nghĩ, năm nay ta có thể thi đỗ, thật là mừng quá, đến nửa đêm lại nghĩ, “hồi xưa sao mình lấy vợ sớm thế, vợ lại không đẹp, mình sắp đỗ tiến sĩ rồi, có thân phận, có địa vị, cũng nên nghĩ cách thay vợ khác mới được”. Hai ngày sau anh ta đi thi, ông chủ quán lại nằm mộng, mộng thấy Thổ địa nói với ông, “tên họ Lý này chưa thi đậu đã nghĩ đến việc đổi vợ, cái ý niệm này đã khiến phước báo của hắn tiêu hết, hắn sẽ không đậu”. Sau đó, anh học trò họ Lý quay về, quả thật thi không đậu. Ông chủ đã đem lời của Thổ địa kể lại với anh ta. Anh học trò xấu hổ đến nổi không thể ở lại quán trọ, lập tức dọn đi. Dù sao cũng may anh ta còn biết xấu hổ, tâm xấu hổ này nếu có thể làm được thật sự thì có thể chuyển vận mạng. Cho nên, sách “Liễu Phàm Tứ Huấn” nói với chúng ta, sửa lỗi cần phát ba thứ tâm. Tâm thứ nhất là tâm xấu hổ, tiếp theo là phát tâm kính sợ; kính sợ thiên địa quỷ thần, sau là phát tâm dũng mãnh, đoạn ác tu thiện. Cho nên, một niệm sai lầm sẽ khiến họa phúc một trời một vực. Từ những câu chuyện này, chúng ta phải hiểu rằng, rất nhiều việc chấp pháp trong thế gian cần phải phù hợp với quy luật của trời đất, theo luật trời, không thể theo quy định của một quốc gia nào. Chỉ cần ta làm trái với đạo trời thì sẽ gặp tai ương, đây không phải là chuyện may rủi.

Ví dụ bạn nói, hôm nay người trong nhà này chuyên môn mở sòng bạc, các bạn nói mở sòng bài thì là đúng hay sai? Tất nhiên là sai rồi. Pháp luật không chế tài người đó thì luật trời sao không thể trừng trị người đó chứ. Ở thế gian này, anh ta hối lộ đến mức cảnh sát không đến gây khó dễ, nhưng mà ông trời sẽ làm điều đó. Con người hiện giờ đều dùng mưu mẹo nhỏ, nhưng người tính không bằng trời tính. Các vị xem nước Mỹ, khi cơn lốc tài chính thổi đến thì tiền kiếm được đều bỏ vào thị trường chứng khoán, kiếm được rất nhiều tiền, điều này gây hại cho ai? Gây hại cho người trong thiên hạ, gây hại đến kinh tế toàn cầu. Ồ, họ đã tạo ra cái nghiệp lớn như vậy. Tiểu nhân oan uổng vẫn làm tiểu nhân, vì không hiểu đạo lý, chỉ thích dùng mưu mô, trái ngược đạo trời. Hiện giờ vẫn có quốc gia cho đánh bạc, điều này theo lời dạy của lão tổ tông, thì việc làm này không hề thỏa đáng, tôi chỉ dám nói “không thỏa đáng” thôi. Ây da, vừa rồi chúng ta có giảng đến việc “soi sét lại chính mình”, việc này là do họ vẫn chưa được biết “Đệ Tử Quy” và “Liễu Phàm Tứ Huấn”, chúng ta nên dành thời gian nói chuyện với các quốc gia này,ngồi lại nói chuyện một chút. Kỳ thực ông trời rất từ bi, trước khi giáng họa cho người, đều có nhắc nhở nhiều lần, nhưng con người do vì, “tham mà mờ trí, lợi mà mờ mắt”, không chịu hồi đầu, không chịu cảnh giác. Trong cuộc đời chúng ta gặp rất nhiều việc bất như ý, kỳ thực chúng ta nên bình tĩnh suy nghĩ, lúc trước đã có rất nhiều người nhắc nhở chúng ta, chỉ là chúng ta không để lời nói của họ vào trong tâm, nếu không thì những bất hạnh của đời người đâu có đến với ta. Cho nên những bất hạnh trong đời con người, thứ nhất là do không nghe lời cha mẹ, thứ hai là không nghe lời người lớn, “không nghe lời người xưa, thiệt thòi ngay trước mắt”. Không nghe lời Thánh Hiền, không nghe lời Kinh điển, thì sẽ gặp tai nạn.

Chúng ta xem tiếp câu thứ 35 trong Luận Ngữ, vua Nghiêu có nói, câu nói này được thánh vương mỗi triều đại xem là khẩu hiệu. “Bản thân trẫm có tội, xin trời cao đừng làm liên lụy dân chúng các phương, dân chúng các phương có tội, đều do trẫm không làm gương tốt”. Chữ “trẫm” này là cách xưng hô khiêm tốn của Thang Vương đối với chính ông, khiêm tốn xưng mình là “trẫm”. Câu nói này nằm trong phần “Nhị thập Nghiêu viết” của cuốn Luận Ngữ, là lời nói của Thang Vương, nhưng trên thực tế, vua Nghiêu, vua Thuấn đều kỳ vọng bản thân mình như vậy. “Trẫm cung hữu tội” có nghĩa là bản thân tôi có tội. “Vô dĩ vạn phương”; “vạn phương” là bá tánh nhân dân ở các nơi, chính là mong trời đừng làm liên lụy và giáng tội cho dân chúng khắp nơi. Nhưng “vạn phương hữu tội”, dân chúng mắc tội, “tội tại trẫm cung”, những tội lỗi này nên do tôi gánh lấy, bởi vì tôi đã không giáo hóa tốt bọn họ. Chúng ta trước đây nhìn thấy phong thái của vua Nghiêu, trong phần “Thuyết Uyển” cũng có nói đến, khi thấy người đói khát, vua Nghiêu liền cho rằng, “là do ta gây nên, ta đã không chăm sóc tốt cho nhân dân”. Thấy người chết cóng, vua Nghiêu cũng phản tỉnh lại chính mình, thấy người phạm tội thì vua Nghiêu nói, “ta đã không dạy tốt anh ta”. Tinh thần của vua Nghiêu là, “trước tha thứ, sau dạy dỗ”, khoan thứ, bao dung, tiến thêm một bước là giáo hóa nhân dân. Sau đó, lòng người trong thiên hạ đều rất nhân hậu, đều có thể bao dung người khác, đều có thể hết lòng giúp đỡ người khác. Cho nên, thời đại Nghiêu – Thuấn, lòng người đều tốt đẹp, nên Đại Vũ vào thời xưa đã cảm thán nói, “người dân trong thời Nghiêu Thuấn đều lấy tấm lòng của Nghiêu Thuấn làm thái độ lập thân xử thế của họ”. Đại Vũ cảm thấy rằng, người dân được ông giáo hóa trong thời đó đều không thể có được thái độ như vậy, ông cảm thấy đức hạnh của chính mình không bằng Nghiêu Thuấn.

Khi chúng ta đối với con cái, đối với học sinh trong trường, đối với nhân viên của mình, đối với những người có duyên ở bên cạnh, chúng ta phải làm theo tinh thần của vua Nghiêu, “trước tha thứ, sau dạy dỗ”. Cho nên trong Kinh điển có một câu nói: “Tiên nhân bất thiện, bất thức đạo đức”. Cha mẹ của họ, tổ tiên của họ, những thế hệ này đều lơ là văn hóa truyền thống, họ đã không hiểu rõ đạo đức, bởi vì “vô hữu ngữ giả”, không có người bảo cho họ biết nên “thù vô quái dã”, không thể trách được. Câu nói này nếu chúng ta thâm nhập rồi thì sẽ không trách cứ bất kỳ người nào nữa, đều khoan thứ, bao dung. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là “sau phải dạy dỗ”, sau khi khoan thứ với người rồi, thì quan trọng là phải dạy dỗ họ. Trong việc dạy dỗ này, điều quan trọng là phía bên trái của chữ “giáo”, trên làm thì dưới mới làm theo. Cho nên thân giáo, chữ “giáo” này không phải dùng miệng.

Chúng ta nhìn chữ “giáo”, chữ nguyên thủy của nó vốn không có bộ “khẩu”, đây là đứa trẻ, đứa trẻ nhìn người lớn, thầy giáo. Hai dấu chéo này thì bắt chước, trên làm thì dưới làm theo, là thân giáo. Tiếp theo là hình cái tay cầm nhánh cây, nghĩa là không nài khó nhọc mà thức tỉnh, cảnh tỉnh, đây là biểu thị tâm nhẫn nại. Giáo dục nhất định cần thân giáo và lòng nhẫn nại, giáo dục không thể gấp mong thành tựu được, vì rốt cuộc sẽ biến thành việc “kéo mầm cho cây mau lớn”, kết quả trái với mong muốn.

Kỳ thực, chúng ta không có biện pháp dạy dỗ tốt người khác là vì đã không làm được triệt để hai thái độ này. Giả như, chúng ta cảm thấy chúng ta đã có thân giáo rất tốt vậy thì vấn đề nằm ở thời gian và sự nhẫn nại. Chúng ta nên luôn luôn phản tỉnh lại hai điều này, vẫn là chưa làm đủ, sẽ không thể đi trách người khác, vẫn phải từ trong thân giáo, đức hạnh cộng với sự nhẫn nại của bản thân mà dụng công. Trong chữ “giáo” sau này, vẫn là từ chính bản thân, lấy thân làm gương mà bắt đầu. Câu nói này của Thang Vương, Thái Tông Hoàng đế khắc ghi trong lòng.

Trong sách Tư Trị Thông Giám có ghi lời nói của Thái Tông, “quân nguyên dã, thần lưu dã, trược kỳ nguyên, nhi cầu kỳ, lưu chi thanh, bất khả đắc h. Người làm vua giống như đầu nguồn của con sông, “quân nguyên dã”. “Thần lưu dã”, thần tử như nhánh của con sông, nếu đầu nguồn đã bị ô nhiễm, mà muốn cho các nhánh sông trong sạch là việc không thể. Thái Tông có được tâm thái như vậy, thật đáng quý.

Trong những năm đầu Trinh Quán, có người dâng thư gửi Thái Tông, hy vọng có thể trừ bỏ một số nịnh thần trong triều, những quan không tốt, Thái Tông nhận được nói rằng, “người trẫm trọng dụng đều là hiền thần, khanh cảm thấy người nào không phải là hiền thần vậy?”. Rốt cuộc vị quan này nói: “Thần từ nhỏ lớn lên tại làng quê, mắt của thần không thể phán đoán ai không phải là hiền thần được, nhưng có thể nhờ Bệ hạ cố ý nổi giận thử một ngày, sau đó nói một vài câu không đúng, bởi vì bệ hạ rất tức giận, Ngài xem xem có người nào dám không e sợ trận lôi đình của Ngài, không sợ Ngài nổi giận mà dám thẳn thắn khuyên can Ngài, người như vậy chính là hiền thần đích thực. Nếu như Ngài nổi giận, nói những lời không đúng, mà người đó tùy thuận theo lời Ngài, phụng mạng theo Ngài, thì kẻ đó chính là nịnh thần, Ngài sẽ phán đoán ra những kẻ này không tốt”.

Các vị học trưởng, thấy cách làm này tốt không? Tốt không? Chúng ta xem Thái tông làm thế nào ứng phó với tình huống này. Thái Tông lúc đó nghe lời của Đại thần Phong Đức Di nói: “Dòng nước đục hay trong là do đầu nguồn của nó. Thiên tử chính là ngọn nguồn của việc trị nước trong sạch, thần tử và nhân dân giống như dòng nước vậy, nếu như vua của một nước mà chính mình trước tiên dùng thói gian trá, vậy chẳng phải là cố ý đóng kịch hay sao. Cố tình đóng kịch mà lại muốn có thần tử chính trực, bản thân mình không chính trực mà muốn thần dân chính trực, vậy thì khác nào đầu nguồn nước ô nhiễm mà lại hy vọng dòng nước được trong sạch, về mặt lý thì không thể có được. Ồ, Thái Tông thật là chánh trực. Nếu như tôi không nhìn thấy câu phía sau, thì sẽ cảm thấy cách làm lúc đầu thật không tệ. Nên may quá, tôi không làm hoàng đế, nếu không thì nguy rồi. Nhưng bây giờ sau khi được học, cần phải học những việc đúng đắn này.

Thái Tông còn nhắc đến một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử, là Ngụy Võ Đế, chính là Tào Tháo. Thái Tông xem thấy phần lịch sử về Tào Tháo thì cảm thấy ông ta mưu kế quá nhiều, Ngài không tán thành những cách làm của Tào Tháo, cảm thấy vua của một nước mà làm những việc như vậy thì sẽ rất khó giáo hóa nhân dân. Chúng ta thử suy nghĩ, chúng ta đã học được gì từ Tào Tháo? “Thà ta phụ người trong thiên hạ, cũng không để người trong thiên hạ phụ ta”, điều này không thể học theo. Mọi người học tập cần phải có năng lực phán đoán, cần học theo Phạm Trọng Yêm, “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ”. Chúng ta nhìn thấy, sao tâm thái lại khác biệt lớn như vậy? Cho nên, Thái Tông không tán thành những thứ quyền biến gian trá này. Đương nhiên Thái Tông là người rất thấu tình đạt lý, Ngài nói với người đưa thư là, ta muốn sử đại tín hành ư thiên hạ”, dùng tâm thành tín để xây dựng chữ tín trong thiên hạ, không muốn dùng sự gian trá để giáo hóa nhân dân. Cho nên, “Khanh ngôn tuy thiện”, cách làm như khanh nói dù không tệ, nhưng “trẫm sở bất thủ dã”, nhưng trẫm không làm đâu. Ngài không phủ định ngay lập tức ý kiến của thần tử, còn khuyến khích bọn họ nêu ý kiến, nhưng cũng thông qua cơ hội này để dạy dỗ các thần tử, nhất định không thể làm việc gian trá. Cho nên, toàn bộ sách Trung Dung nhấn mạnh một chữ là chữ “thành”, “chí thành như thần”, chí thành cảm thông, chứ không được dùng các thói gian trá.

Trong Luận Ngữ còn có một câu nói: “Bất nghịch trá, bất ức bất tín, ức diệt tiên giác giả, thị hiền hồ”. Khổng Tử nói rằng, chữ “nghịch” này là ước đoán, phỏng đoán, trước hết đừng có đoán người khác có đang gạt mình hay không. “Bất ức bất tín”, chữ “ức” này chính là “suy đoán”, đừng có suy đoán người khác có giữ chữ tín với mình hay không. Có một vài người hay phỏng đoán, suy đoán người khác có gạt mình hay không, người khác có giữ chữ tín với mình không, kết quả sau cùng thì quả thật người đó đã đoán trúng, “ức diệt tiên giác giả”, quả thực đã được người đó tiên liệu trước. Nhưng Khổng Tử lại không khuyến khích và tán đồng thái độ này, Khổng Tử ngài nói, “nếu quả thật đoán đúng thì như vậy có được xem là có tài đức, có phải là giỏi giang không?”. Bởi vì, những suy đoán này sẽ có lúc tạo thành sự hiểu lầm người khác, vì vậy mà Khổng Tử không khuyến khích việc suy đoán người khác có bất tín hay lừa gạt không. Bởi vì phong khí như vậy, nếu như ở trong một đoàn thể sẽ khiến cho tâm nghi ngờ của người càng ngày càng lớn, tín nhiệm cho người thêm sức mạnh, hoài nghi sẽ khiến cho hai bên sanh hiểu lầm. Chúng ta cùng chung sống với mọi người, chúng ta nên nhớ câu, “nhân chi sơ tính bổn thiện”, thì mỗi một người sẽ có được tín niệm càng ngày càng lớn. Tuy nhiên, nếu tôi quả thật đối tốt với người, mà anh ta lại gạt tôi, hình như Kinh điển tôn giáo của phương Tây có câu, “đóng lại một cánh cửa lớn là giúp người khác mở ra một cánh cửa sổ”, phải không? Nếu bạn một bên chịu thiệt, bạn hoàn toàn không tính toán, thì phước sau sẽ lớn vô cùng. Người Mân Nam chúng ta có câu: “Ông trời thương kẻ khờ”. Nhưng mà các bạn đối với người ta tốt như vậy, mà bị người ta lừa, thì giống như “Liễu Phàm Tứ Huấn” nói, “những người không có tội mà bị mang tiếng xấu”, bản thân không làm gì sai mà bị người khác mắng xối xả, vậy thì mắng bạn sẽ khiến bạn có phước báo, khiến tội nghiệp của bạn đều tiêu trừ, phước báo liền đến, “con cháu phát đạt dài lâu”. Đây chính là chân lý, mọi người có tin chân lý này không? Tin à, tốt! Vậy từ đây trở đi mọi người bị người khác mắng thì phải vui mừng, nếu mắng đúng thì nhớ phản tỉnh “nghe lỗi vui”. Mắng không đúng chính là đem phước báo đến cho bạn, đúng không? Do vậy các bạn xem, con người có gì mà không vui vẻ, bởi vì không tin chân lý mà thôi. Người ta vì sao mỗi ngày được hoan hỷ? Là vì đã tin tưởng chân lý. Lời nói này của Khổng Tử đã nhắc nhở chúng ta về thái độ xử thế. Kỳ thực, khi chúng ta đang phán xét người khác thế này, thế nọ, nhất định là phán xét sai. Đừng nói người khác, ngay cả chính mình còn không hiểu rõ, mà suy đoán người khác, đoán chỗ nào, “tôi nhìn người là chính xác đó”, chính mình xem xét chính mình trong hai mươi bốn giờ còn không thấy rõ, thường bán đứng bản thân mà không hề hay biết. Khi nào chúng ta bán đứng bản thân vậy? Lúc ta tùy thuận tập khí chính là lúc ta gây thiệt hại cho chính mình, bán đứng mình rồi. Vì vậy phải chân thực, lấy việc khoan thứ chính mình mà khoan thứ người khác, lấy việc trách người để trách mình, thì sẽ ít phạm lỗi. Đem việc nơi nơi yêu cầu người khác về yêu cầu chính mình thì đức hạnh sẽ nâng cao.

Chúng ta xem tiếp câu số 36, phần “phản thân” trong quyển số 6, trang 819. Chúng ta xem đoạn này, lời của Quản Tử. Đoạn này là triết học chính trị rất tinh túy, chúng ta xem từ đầu. Quản Tử nói: “Thân bất thiện chi hoạn, vô hoạn nhân mạc kỷ tri”. Nếu như người thường đau buồn về khuyết điểm và điều bất thiện của bản thân mà sửa đổi, đừng lo lắng việc người khác không hiểu mình, đừng lo lắng người khác không tin tưởng mình. Chúng ta trước đây hình như có đọc qua một đoạn văn: “Ngự hàn mạc như trọng cựu,  chỉ báng mạc như tự tu”. Biện pháp tốt để ngăn ngừa sự hủy báng là gì? Là tự bản thân tu dưỡng thật tốt. Để ngăn ngừa giá lạnh thì biện pháp tốt nhất là gì? Mua một bộ quần áo thật dầy mặc vào. Đây là nói ẩn dụ để ngăn ngừa hủy báng, không phải đi kêu người khác đừng nói nữa, cách tốt nhất là bản thân tu dưỡng đức hạnh cho tốt. “Dân chi quan dã sát hĩ, bất khả độn đào”, con mắt của dân chúng rất tinh anh, họ quan sát rất rõ ràng, nên không che dấu được, trốn cũng không được. “Cố ngã hữu thiện, tắc lập dự ngã, ngã hữu quá, tắc lập hủy ngã”, nếu ta có thiện hạnh, đức độ thì nhân dân thậm chí sẽ dùng ca từ để tán thán. cHúng ta xem trong Kinh Thi có rất nhiều lời tán thán những vị lãnh đạo có đức hạnh, nếu ta có lỗi thì nhân dân sẽ nhanh chóng dùng ca từ để phản ánh, lời bài hát dùng để phê bình ta. Rất nhiều vị lãnh đạo muốn biết cách nhìn của nhân dân với mình thế nào có khi đi vào chợ để nghe ngóng, đi tìm hiểu xem người dân đang nói những gì, để hiểu được những hay dở trong việc trị nước. “Đương nhân chi hủy dự dã, tắc mạc quy vấn ư gia h, cho dù là lời phê bình hay công nhận của dân chúng, ta nghe rồi đều hiểu rõ, không cần phải về nhà hỏi lại những người trong nhà mình. Kỳ thực, lời của dân chúng nói là đúng, người trong nhà cũng có khi thiên vị.

Có câu rằng: “Nhân mạc tri kỳ tử chi ác, mạc tri kỳ miêu chi thạc”. Có khi người trong nhà thường vì ta mà nói lời không chính xác, chúng ta vừa có chút để phản tỉnh thì người trong nhà chúng ta lập tức nói, “việc này không tồi mà!”, làm cho sự phản tỉnh này không thể đi sâu hơn nữa. “Con như vậy là tốt lắm rồi, con xem mấy tên Giáp tên Ất kìa, con còn giỏi hơn chúng nhiều!. Cho nên, người trong gia đình không nên nói như vậy, người trong nhà nên nói là, “so với Nghiêu Thuấn, so với Khổng Tử mà xem”, đây mới là những người thân chân thật yêu thương chúng ta.

“Cố minh vương hữu quá, tắc phản chi ư thân”, quân vương hiền minh khi phạm lỗi, cái lỗi này bao gồm lỗi của bản thân và lỗi của nhân dân, dù sao cũng tự mình phản tỉnh đã làm sai điều gì? “Hữu thiện tắc quy chi ư dân”, có thiện hạnh gì, có thành tựu tốt đẹp gì đều quy công lao cho thần dân bá tánh, nhường công cho người khác. “Hữu quá nhi phản chi, thân tắc thân cụ”, có sai lầm thì phản tỉnh chính mình, như vậy bản thân mới càng cẩn trọng dè dặt hơn mà sửa chữa lỗi lầm của mình. “Hữu thiện nhi quy chi dân tắc dân h, có công lao, thiện hạnh gì, đều quy về cho nhân dân bá tánh, thì nhân dân sẽ cùng vui, cùng hoan hỷ. “Vãng h dân, lai cụ thân, thử minh vương chi sở dĩ trị dân dã”. Từ “vãng hỷ dân” này, là đem công lao nhường cho lão bá tánh, thì nhân dân sẽ hoan hỷ, nhưng lỗi lầm thì phải phản tỉnh bản thân thì bản thân mới hết lòng cảnh giác, thận trọng dè dặt mà tu thân. Thái độ này chính là đạo lý trị nước của quân vương hiền minh dùng để trị vì bá tánh. Vì vậy, ở đây nhắc đến việc, “có điều gì tốt thì quy công cho nhân dân, có điều gì sai thì phản tỉnh lại chính mình”.

Kỳ thực thái độ này, chúng ta thân là lãnh đạo của một đơn vị cũng phải nên làm như vậy, đồng thời cũng phải làm từ trong tâm, bởi vì cảm thấy rất có trách nhiệm, thuộc hạ có điều gì không đúng, chúng ta cần nên chịu trách nhiệm dạy dỗ họ. Cho nên một vị lãnh đạo cũng cần phải biết gánh vác trách nhiệm, khi mình gánh vác thì thuộc hạ sẽ có cảm giác an toàn, thuộc hạ sẽ cảm thấy xấu hổ và phản tỉnh lại chính họ, “chúng ta đã làm không tốt, khiến cho lãnh đạo phải gánh trách nhiệm”, đồng thời lực hướng tâm này sẽ càng ngày càng mạnh. Cho nên, các vị Thánh Hiền, minh vương khi lập thân xử thế không chỉ có đức hạnh, mà còn phù hợp với đạo lý và lòng người. Được rồi! Hôm nay chúng tôi cùng mọi người chia sẻ đến đây. Cám ơn mọi người!

HẾT TẬP 36 – Xin xem tiếp tập 37 – Quần Thư Trị Yếu 360