QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 GIẢNG GIẢI – TẬP 38

Chủ giảng: Thầy giáo, Tiến sĩ Thái Lễ Húc
Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ
Thuyết minh: Hạnh Quang
Download toàn bộ MP3



Quần thư trị yếu 360 – Tập 38

TU THÂN – TỀ GIA – TRỊ QUỐC – BÌNH THIÊN HẠ

Chúng ta xem câu tiếp theo, câu số 39. Sách xưa có nói, câu này trong quyển số 5, trang 642. Chúng ta hãy xem, phía trên có nhắc đến, trang 641. Phần sau cùng có một câu: “Thiên địa hiệp khí nhi vạn vật sanh”, sự vận hành của trời và đất nếu hết sức hòa hợp, thì vạn vật sẽ được sinh trưởng. “Quân thần hợp đức nhi thứ chính thành”, vua tôi đồng tâm thì việc trị vì đất nước và nhân dân đều tốt đẹp. Vì vậy, “ngũ đế chi thế phi giai trí”, vào thời Ngũ Đế, không phải tất cả các vị đại thần đều có trí huệ. “Tam quý chi mạt phi giai ngu”; từ “tam quý” này nói về ba triều đại Hạ – Thương – Chu, vào thời kỳ cuối của ba triều đại này, thì cũng không phải tất cả các quan đại thần đều ngu muội, quan trọng là ở chỗ nào? “Dụng dữ bất dụng, tri dữ bất tri”, người hiền thì vua có trọng dụng không, vua có nhận ra người ấy không? Người không tốt thì vua có thể nhận rõ không, có thể không dùng đến ông ta không? Vấn đề quan trọng nằm ở chỗ này. Vì vậy sách xưa trong Thượng thư có viết rằng, “có một quân vương siêu phàm thì chắc chắn có thể trọng dụng những đại thần siêu phàm”. Từ “bất thế”, có nghĩa là ông ấy là người rất siêu phàm, là một vị vua muốn lập công lao. Là vị vua siêu phàm thì ông ấy sẽ trọng dụng những vị đại thần siêu phàm. Mà nếu “trọng dụng những đại thần siêu phàm”, những vị quan siêu phàm thoát tục thì “chắc chắn có thể xây dựng những công trình siêu phàm”, nhất định sẽ có thể kiến lập sự nghiệp vô cùng vĩ đại. Đây là vấn đề có liên quan đến luật Nhân Quả. Một vị vua tốt như vậy thì mới có thể “phương dĩ loại chúng”, chiêu cảm đến những vị quan siêu phàm, sau đó thì những vị quan này sẽ vì quốc gia mà dốc sức, vua tôi một lòng, kiến lập sự nghiệp vĩ đại.

Chúng ta nghĩ đến việc Thái Tông Hoàng đế khi xem đến đoạn này rồi, vì ông là người có chí khí, nên nhất định ông sẽ biết cách đặt kỳ vọng cho bản thân mà trở thành một vị vua siêu phàm, sáng lập nên sự nghiệp siêu phàm. Kỳ thực, vào đầu những năm Trinh Quán, giữa vua tôi cũng đã từng có một đoạn đối thoại như vầy. Trong lúc vua tôi hai bên đang thảo luận sự việc; từ đời Ngụy, Tấn, Nam bắc triều, Tùy, thời gian loạn lạc thật là dài, hiện giờ nhà Đường đã được thành lập, quả thật rất khó để nhanh chóng có được thái bình và an định trong thiên hạ, bởi vì họ cảm thấy sự loạn lạc kéo dài quá lâu. Tuy nhiên, lúc đó Ngụy Trưng lại không có cách nhìn như vậy, bởi vì ông nói rằng, “người mà rơi vào cảnh nguy nan, khốn đốn trong một thời gian dài, thì người đó lúc nào cũng lo lắng đến sự nguy vong của đất nước”, vì vậy mà lòng của người đó lúc nào cũng hy vọng quốc gia có thể an bình thịnh trị. Người mà có cái tâm như vậy rất dễ dàng tiếp nhận sự chỉ dạy, người dân vì thế mà dễ giáo hóa. Cho nên, sau cuộc đại loạn vẫn có thể dễ dàng giáo hóa. Điều này giống như việc một người bị đói nhiều ngày, bạn đem cho người đó cái gì ăn, thì người đó đều cảm thấy rất là ngon.

Thái Tông cũng có nói: “Người hiền trị nước được trăm năm, sau đó sẽ có thể chuyển biến được phong khí tàn bạo của đất nước, sẽ khiến lòng người lương thiện dần. Sau cùng cũng bỏ luôn các hình phạt, điều này cần phải mất cả trăm năm. Hiện giờ, sau khi trải qua thời loạn lạc mà muốn nhanh chóng thịnh trị ngay thì dường như là việc khó có thể làm được”. Ngụy Trưng nghe vậy thì nói: “Người hiền này là chỉ các người hiền nói chung trong thiên hạ, chứ không bao gồm các vị Thánh triết”. Đoạn này mọi người cần hiểu rõ, đây là lời nhắc nhở cho Thái Tông Hoàng Đế, “bệ hạ không phải là bá tánh bình dân, Ngài là Thánh triết nhân, nên ngài không phải mất thời gian lâu như vậy”. Bởi vì, “Thánh triết nhân có thể giáo hóa đất nước, khiến cho trên dưới một lòng, đồng tâm đồng đức, nên việc khôi phục cai trị toàn bộ đất nước thì chỉ cần một năm là có thể đạt được hiệu quả, ba năm thì có thể cai trị được hết sức thành công”. Ngụy Trưng nói, ba năm thì tương đối hơi dài, đương nhiên vào lúc đó mới qua thời loạn lạc, không những Thái Tông nghe xong ngay lập tức không thể tin tưởng được, mà Phong Đức Di và các vị đại thần khác cũng đều kiên quyết phản đối ý kiến này. Bởi vì, họ cảm thấy sau thời Hạ – Thương – Chu thì lòng người đã trở nên khá là xấu, không còn chân thật nữa. Đồng thời, vào đời nhà Tần lại dùng pháp luật mà trị nước, nóng lòng muốn thịnh trị mà không không có biện pháp để trị cho tốt. Còn Ngụy Trưng thì lại nói cần phải nhanh chóng trị cho thật tốt, cách suy nghĩ và làm việc này có khả năng lại tạo ra một sự hỗn loạn khác cho quốc gia. Ngụy Trưng khi đối diện với một tình huống như vậy, ông đã hết sức điềm tĩnh, bởi vì một vị đại thần có thể xoay chuyển được chính sách của cả quốc gia hay không, nếu không có định lực, không có trí huệ, thì sẽ làm không được.

Chúng ta hãy suy nghĩ, giả như chúng ta nói đến đây mà hoàng đế lại không tin tưởng mấy, rồi tất cả các vị quan khác cũng đều phản đối, đến lúc đó thì chúng ta có thể nói ra lời được không? Vì vậy, chúng ta khi đối mặt với thời điểm nào, tình huống nào, cũng đều cần phải hết sức điềm tĩnh. Ngụy Trưng ngay lúc đó đã đem lịch sử từ thời Tam hoàng – Ngũ đế kể lại. “Vua Hoàng Đế và vua Xi Vưu đã đánh nhau hơn bảy mươi lần, xã hội quốc gia thời đó rất là loạn lạc, nhưng sau khi thắng trận rồi thì lại trị vì đất nước rất tốt, rất nhanh có được thái bình, bao gồm luôn việc vua Thương Thang dẹp loạn thời nhà Hạ, cũng có thể rất nhanh mà an định thiên hạ. Vua Trụ vô đạo, nhưng khi vua Vũ chiếm lại đất nước, cũng rất nhanh chóng lên ngôi và khiến đất nước thái bình. Do đó, kể những câu chuyện lịch sử như vậy, các vị đại thần khác nghe qua rồi cũng không thể phản bác được. Đương nhiên, sau cùng thì điều quan trọng nhất vẫn là Thái Tông có chịu áp dụng hay không, tin hay là không tin? Thái Tông đã tiếp nhận lời đề nghị của Đại thần Ngụy Trưng, ông còn áp dụng đạo lý của tiên vương để tận tâm tận lực trị vì quốc gia. Vì vậy, Thái Tông cũng không phải là người tầm thường, ông rất siêng năng, không biết mệt mỏi, chỉ trong vài năm mà toàn bộ triều Đường đều hết sức khang ninh, đồng thời quân xâm lược Đột Quyết cũng bị bọn họ đánh bại. Lúc bấy giờ, Thái Tông quả thật đã không dễ dàng gì khiến cho bốn biển an vui, thậm chí các quốc gia khác cũng đánh giá cao thành tích của ông, gọi ông là “Thiên Khả Hãn”. Ông lại không quy công lao về mình mà tự mãn, mà đối trước quần thần nói là, thái độ này thật khó có được, luôn biết uống nước nhớ nguồn. Thái Tông nói: “Những năm đầu Trinh Quán, mọi người đều bàn đến, nói lúc này không thể thực hiện được đạo làm vua, đạo làm thánh vương, chỉ có Ngụy Trưng ra sức khuyên trẫm. Sau khi trẫm nghe lời khuyên của ông ấy, chỉ trong thời gian mấy năm mà đất nước đã được an định rồi, các dân tộc xa xôi đều đến triều cống, đồng thời bọn Đột Quyết, vốn là đến xâm lược Trung Nguyên, mà hiện giờ ngay cả tộc trưởng của họ cũng vội vàng quay về quy phục Đường triều. Tất cả công lao này đều là do trí huệ của Ngụy Trưng, sự kiên trì của Ngụy Trưng”. Ông nói xong rồi, sau đó còn nhìn Ngụy Trưng một cái.

Chúng ta xem xong đoạn lịch sử này, đều có thể cảm nhận được tình nghĩa vua tôi giữa Đường Thái Tông và Ngụy Đại nhân. Thái Tông nhìn Ngụy Trưng rồi nói: “Viên ngọc mặc dù tự nó vốn có khí chất rất tốt, nhưng viên ngọc quý đó hiện đang nằm bên trong đá, nếu không có người thợ giỏi đục đẽo lấy nó ra, thì nó so với viên đá cũng không có gì khác biệt”. Bởi vì, ngọc bất trác, bất thành khí, gặp được thợ giỏi rồi thì nó mới trở thành bảo bối truyền đến vạn đời sau được. Đây là cách nói ẩn dụ, vì Thái Tông hết sức khiêm tốn. Ông nói: “Trẫm tuy không phải là viên ngọc quý, nhưng do vì được công người mài dũa, chính là nhờ những lời kiến nghị và khuyên can rất hay của Ngụy Trưng. Thái Tông còn nói: “Lao công ước trẫm dĩ nhân nghĩa”, nghĩa là đã phiền Ngụy đại nhân thường xuyên dùng nhân nghĩa đạo đức để đốc thúc, sách tấn trẫm, mới  khiến trẫm có thể đạt được thành tựu như ngày nay. Vì vậy, chữ “công” ở đây là cách tôn xưng dành cho Ngụy đại nhân, chính là người thợ đẽo ngọc giỏi cả đời của vua. Một vị hoàng đế mà có thể khen ngợi thần tử của mình như vậy, cảm ơn thần tử của mình, quả thật không dễ có. Vì vậy, câu chuyện này khiến chúng ta hiểu Thái Tông chính là, “trọng dụng những đại thần siêu phàm thì nhất định có thể xây dựng những công trình siêu phàm”, đồng thời cũng khiến chúng ta cảm nhận rằng Thái Tông rất tôn trọng những vị đại thần có đức hạnh, thậm chí dùng thái độ tôn trọng đức hạnh của người khác để học hỏi từ họ.

Trong toàn bộ nền văn minh của Trung Hoa, có hai triều đại có thể đại biểu cho dân tộc người Hoa trên toàn thế giới, đó là Hán và Đường. Chúng ta đều là người Hán, có văn hóa của người Hán, đi đến khắp nơi trên thế giới, như các nước Âu Mỹ, đều có thể thấy các đường phố của người thời Đường. Vừa rồi, chúng ta đã nêu ra một ví dụ về thời Đường. Còn nhà Hán, là do Lưu Bang thành lập, rất có ý nghĩa. Tôi cũng ngay đây xin lưu ý với các bạn một việc là, đối với các bạn đang học tập và đang hoằng dương Văn hóa Trung Hoa, những người họ Lưu và họ Lý đặc biệt nhiều. Mọi người có thể để ý, hiện giờ đặc biệt là những vị đang giảng dạy ở Trung Quốc đại lục mang họ Lưu và họ Lý rất nhiều. Các vị xem, trước đây không lâu đã có cô tên Lưu Tô, trong trường Trung ương Đảng còn có Giáo sư Lưu Dư Lị. Lần trước chúng tôi còn có mời đến Giám đốc Lưu Phương nữa, những người họ Lưu đặc biệt nhiều. Những vị giáo viên họ Lý cũng đông, vì triều Đường là do nhà Lý thành lập, triều Hán là do người họ Lưu thành lập. Do đó đời người rất có ý nghĩa, dường như đều là những việc mà trong mạng của bạn phải làm, nên bạn hãy nên thành thành thực thực mà mau đi làm, mệnh trời khó tránh.

Có một lần, tôi về đến Đài Loan. Chúng tôi đi tổ chức khóa học, vị quản lý trưởng của tổ chức cơ kim “Giáo dục chí thiện” ở Đài Loan, là cô giáo Trần Thụy Châu. Trong khóa học đó, chúng tôi đều có đảnh lễ Khổng Lão Phu Tử, hành lễ tam quỳ cửu khấu. Kết quả, khi chúng tôi cùng cô giáo Trần Thụy Châu  lễ bái Khổng Tử xong, sau đó thì cô giáo Trần có nói với tôi, “cả cuộc đời này của chúng ta nhất định phải làm sự nghiệp hoằng dương văn hóa”. Tôi nghe xong rồi thì thỉnh giáo cô ấy, vì sao vậy? Cô nói, hôm nay lúc chúng ta cùng nhau lễ bái Khổng Tử, thì cô ấy có một thể ngộ rằng, Khổng Tử thời đó gặp kiếp nạn lớn nhất là bị tuyệt lương ở Trần Thái, bảy ngày không có gì để ăn, tất cả đệ tử đều bị đói đến nỗi đi không nổi, bò cũng không nổi. Cô ấy nói bởi vì cô ấy họ Trần, còn tôi họ Thái, “bị tuyệt lương ở Trần Thái”, cho nên chúng tôi đều có tội cả, cả đời này phải chuộc cái tội “Trần Thái” này. Tôi nghe xong cũng cảm thấy có lý.

Trong “Liễu Phàm Tứ Huấn” có câu: “Xa thì phải hoằng dương đức hạnh của tổ tiên, gần thì phải nghĩ cách chuộc lỗi lầm cho cha mẹ”. Dân tộc Trung Hoa của chúng ta đều có trách nhiệm hoằng dương đức hạnh của cổ Thánh tiên Hiền, “gần thì phải nghĩ cách chuộc lỗi lầm cho cha mẹ”. Nước Trần và nước Thái, đều được xem là tổ tiên của chúng tôi, hồi xưa đã làm khó cho Ngài Khổng Tử, đây chính là tội, không sai được, nên cần phải chuộc lại cái lỗi này.

Vừa rồi chúng ta có nói đến việc triều Hán là do người họ Lưu thành lập, chúng ta nghĩ đến việc thời xưa Lưu Bang nhà Hán đã tương tranh với nước Sở trong một thời gian dài, cuối cùng đã thống nhất đất nước. Lưu Bang đối diện với các đại thần hỏi họ là: “Vì sao mà cuối cùng ông ấy có thể thống nhất thiên hạ mà Hạng Vũ lại thất bại?. Ông hy vọng tất cả đại thần hãy thẳng thắn nói ra, không nên úy kỵ điều gì cả. Hãy phân tích cái kết quả này, kết quả các đại thần nói, “thưa hoàng thượng, hoàng thượng vẫn có lúc hơi kiêu mạn và hủy nhục người khác, còn Hạng Vũ thì có đầy lòng nhân, yêu thương nhân dân, nhưng điều rất đặc biệt ở Hoàng Thượng là người biết chia sẻ lợi ích với thiên hạ. Một vị quan lập công, Ngài liền lập tức khen thưởng, vị quan nào có thể đánh thắng và chiếm lĩnh được địa phương nào thì Ngài liền đem đất chỗ đó cấp cho vị ấy, mà Ngài không giữ làm của riêng, có lợi cùng chia với người. Còn Hạng Vũ thì ghen ghét người hiền, đố kỵ người tài, tâm tật đố quá lớn, những người có công lao ông ta lại đố kỵ, mưu hại người ấy, đối với người hiền đức thì ông ta lại có tâm nghi ngờ, với người đánh trận có công ông ta không hề luận công mà cấp thưởng, đem vùng đất đó chiếm thành của mình, mà không hề cấp cho vị tướng đó, đây chính là nguyên nhân khiến Hạng Vũ mất cả thiên hạ”. Sự phân tích này khiến cho chúng ta xét nghĩ đến việc về mặt biểu hiện thì Hạng Vũ cũng có yêu thương nhân dân, nếu không thì ông ta cũng không muốn lật đổ chính quyền tàn bạo của nước Tần. Điểm bắt đầu của ông vẫn là tốt, nhưng vì sao sau đó lại đố kỵ những vị đại thần có năng lực, có đức hạnh? Căn nguyên của vấn đề nằm ở chỗ sự tu dưỡng của ông. Do đó, sách “Đại học” có nói với chúng ta, “người xưa muốn làm sáng tỏ đức sáng trong thiên hạ, cuối cùng cũng quy về chỗ nghiên cứu đến tận cùng nguyên lý của sự vật. Nghiên cứu đến tận cùng nguyên lý của sự vật, thì mới có thể có được sự hiểu biết. Có được sự hiểu biết thì ý niệm mới chân thành. Ý niệm chân thành thì cái tâm mới ngay ngắn”. Con người mà không dẹp bỏ tâm ngạo mạn, không bỏ tâm đố kỵ thì tâm người đó không thể nào hòa hợp với lòng người được, cuối cùng có thể sẽ bị người khác làm phản và xa lánh. Những lời phân tích của các quan, Lưu Bang sau khi nghe xong rồi nói, “các người chỉ biết một mà không biết hai, còn có một nguyên nhân còn quan trọng hơn nữa là vì ta đã tin dùng những đại thần rất có đức hạnh”. Vì vậy có câu: “Trọng dụng những đại thần siêu phàm”. Lưu Bang nói tiếp, ông ấy đã dùng Trương Lương, bởi vì Trương Lương có trí huệ. Ông ấy có thể ngồi trong doanh trại mà trù tính chiến lược, đem lại chiến thắng ở nơi cách xa ngàn dặm. Những quyết định chiến lược quan trọng nếu như được thiết lập sai thì có thể khiến cho hàng vạn người phải thương vong không biết chừng, ở đây ông tin dùng Trương Lương. Ông còn tin dùng Tiêu Hà. Tiêu Hà có thể quản lý tốt quốc gia, an định lòng dân, là một lực lượng hậu phương tốt nhất. Trong toàn bộ các trận đánh, làm cách nào để vận chuyển quân lương, việc này Tiêu Hà làm không sai một chỗ nào, làm được rất tốt. Nếu như toàn bộ dịch vụ hậu cần cung cấp cho quân đội không thể làm được tốt, quân đội dù mạnh đến mấy cũng đánh không thắng nổi. Còn có Hàn Tín đánh trận là thắng, bị đánh nhưng chưa từng thua. Ba người này đều là những nhân vật kiệt xuất, Lưu Bang đều trọng dụng. Còn Hạng Vũ thì có một đại thần rất giỏi là Phạm Tăng, nhưng ông ta lại không nghe theo lời khuyên của Phạm Tăng, đây là nguyên nhân thất bại của Hạng Vũ. Triều nhà Hán sở dĩ hưng vượng như vậy đều là do biết dùng những “đại thần siêu phàm”, nên đã lập nên những “chiến công siêu phàm”.

Chúng ta xem câu tiếp theo, trong quyển số 2, trang172. Câu này xuất phát từ “Lễ Ký”, chúng ta cùng đọc Kinh văn một lần:

Khổng Tử nói: “Vua đối với đại thần không thể không cung kính, bởi vì họ là tấm gương của dân chúng. Đối với cận thần không thể không thận trọng tuyển lựa, bởi vì họ là tấm gương cho dân chúng noi theo”.

Chúng ta xem, trong câu này nói đến việc vua đối với đại thần của quốc gia không thể không cung kính, bởi vì họ đều là hình mẫu của đất nước. Chúng ta nhìn thấy nhân dân trong các thời đại đều rất kính trọng các đại thần của quốc gia, thường xuyên nghe ngóng về tình hình của các vị đại thần này. Một phần là, nếu những đại thần này được trọng dụng thì nhân dân mới được an tâm, mặt khác là vì họ xem những đại thần này là tấm gương, để học hỏi về mặt đức hạnh. Chúng ta hãy xem triều Tống, quốc gia dân quyền, triều đại dân quyền, lúc đó có Vương Đán, Vương Tăng, Phạm Trọng Yêm Tiên sinh, Tư Mã Quang Tiên sinh, nhân dân hết sức quan tâm đến những vị này, học hỏi theo họ. Các vị đại thần này sẽ xoay chuyển phong khí tốt đẹp cho toàn thể xã hội, nên nếu như quan lại mà vô đức thì sẽ tạo thành phong khí không tốt.

Các vị thấy triều Thanh, vua Càn Long trọng dụng tham quan Hòa Thân, điều này khiến cho toàn thể triều đình, thậm chí toàn xã hội bị ảnh hưởng rất lớn, rất xấu. Hòa Thân đã tham ô rất nhiều tiền như vậy, một khi khởi tâm tham, muốn trừ bỏ thì không dễ chút nào. Thực hiện việc giáo hóa lòng người và phong khí xã hội thật không dễ dàng, nhưng nếu muốn hủy diệt thì lại rất nhanh chóng. Đây nói về triều nhà Thanh, bao gồm luôn Nghiêm Tung của triều Minh, đây cũng là một đại gian thần. Dùng những tên gian thần như vậy thì toàn bộ phong khí của xã hội sẽ không tốt đẹp, đất nước dù có hưng thịnh thì khó chồng thêm khó. Vì vậy, phải cung kính các đại thần, vì họ là hình mẫu của quốc gia.

“Nhĩ thần bất khả dĩ bất thận”; chữ “nhĩ” này nghĩa là “cận”. Khi dùng tất cả những vị cận thần thì không thể không thận trọng tuyển dụng. Một là khi tuyển chọn phải lựa người có đức hạnh, khi dùng những vị cận thần như vậy cũng phải cẩn thận đối đãi với họ. Một mặt phải cung kính họ, mặt khác cũng cần thường xuyên nhắc nhở họ. Cận thần cũng có khi thay mặt vua làm việc, đại diện cho hoàng đế và quốc gia, không thể làm cáo mượn oai hùm, ra oai diễu võ được, điều này khiến cho phong khí của triều đình và phong khí của xã hội bị ảnh hưởng không tốt. Giống như trong rất nhiều triều đại đã xảy ra việc lộng quyền thiên tử ra lệnh cho chư hầu, đây là một hiện tượng vô cùng nghiêm trọng. Vì vậy, khi dùng các cận thần không thể không tuyển chọn cho cẩn thận, cũng không thể không cẩn thận nhắc nhở và dạy dỗ bọn họ. Bởi vì, họ là “tấm gương cho dân chúng noi theo”.

Ở phía dưới có phần chú thích nhỏ giảng về “dân chi đạo”, họ đều là những tấm gương cho dân chúng phục tùng và noi theo, có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ phong khí. Dùng cận thần cần phải hết sức cẩn trọng, bởi vì cận thần gần gũi với quân vương hoàng đế nhất, thường giảng cho hoàng đế nghe về luân lý đạo đức, luôn luôn nhắc cho hoàng đế nhớ về những nỗi khổ của dân chúng, thì hoàng đế mới có thể dùng tâm đức hạnh mà xử lý việc triều chính. Tuy nhiên, nếu như các vị cận thần này không có đức, thường xuyên bợ đỡ nịnh nọt, thậm chí còn bàn chuyện thị phi, hãm hại trung thần, thì càng nguy to.

Vào thời Chiến Quốc, Tề Uy Vương không hề đơn giản, ông ấy rất thận trọng trong việc phán đoán xem các quan lại có trung thành hay không. Có trung thành hay không thì nghe người bên cạnh nói cũng có thể phán đoán được. Vì vậy, chúng ta phán đoán người khác cũng như vậy, không thể nói người này đối với tôi rất tốt, thì tôi liền nói anh ta là người tốt, người khác nói anh ta không tốt, chúng ta liền lập tức tin ngay. Khổng Tử có giảng trong “Luận Ngữ”: “Người bị người khác ghét, ta cũng phải xem sự thể là thế nào. Người được người khác thích, ta cũng phải xem sự thể là thế nào”, tất cả mọi người đều ghét bỏ người đó thì ta cũng không thể lập tức nói anh ta không tốt, cần phải quan sát. Những người đã mắng anh ấy có phải chăng là vì mong chiếm lợi mà không đạt được, nên đã đi mắng người này không?

Vào thời đại ngày nay, người dân không hiểu luân lý đạo đức, trong đoàn thể xã hội người muốn làm người tốt, muốn chân chánh làm lợi ích cho đoàn thể, thì sẽ gặp rất nhiều trở ngại, bị rất nhiều người mắng. Lúc này thì bạn không thể nghe xong tin người khác, rồi nói người đó không tốt. Trong thời đại này, làm việc tốt khó lắm, làm việc xấu thì rất dễ. Các bạn xem, hiện nay mà muốn làm một số ngành nghề, mở các điểm ăn chơi xấu thì bạn sẽ rất nhanh chóng có cơ hội làm những việc đó. Nhưng bây giờ muốn đi thúc đẩy luân lý đạo đức thì có rất nhiều người sẽ bắt đầu phản đối, “đó đều là những thứ cũ rích của trước đây, không còn hợp thời nữa”, tình huống này khá là ngược ngạo. Các bạn nói, chúng tôi làm trong ngành giáo dục là tốt rồi, trí huệ 5.000 năm, kinh nghiệm 5.000 năm, phương pháp 5.000 năm, hiệu quả 5.000 năm của tổ tiên, mà người Hoa chúng ta lại không học. Tất cả những trường sư phạm đã học qua “Lễ Ký” và “Học Ký” chưa? Đó là nền triết học giáo dục tinh túy của tổ tông. Ngược lại, mặt trăng nước ngoài hình như tròn hơn mặt trăng trong nước, hiện giờ ta đã sử dụng rất nhiều viên chức trong ngành giáo dục từng học ở Mỹ và Âu Châu. Mọi người phải hiểu là, không phải cứ đi du học đều là hay.

Chúng ta hãy lắng lòng quan sát thế hệ sau này của Âu Mỹ, tỷ lệ thanh thiếu niên phạm pháp cao như vậy, họ giáo dục cũng không thành công, chúng ta không thể mù quáng tin theo. Dân tộc chúng ta đời đời đều có Thánh Hiền, chúng ta hãy xem triều Thanh đã có bao nhiêu Thánh Hiền? Trong hơn một trăm năm nay, chúng ta đã không dùng đến những trí huệ và phương pháp này của tổ tiên nên không có người tài chân thật. Vì vậy, muốn đóng băng toàn bộ những rối loạn trong xã hội thì phải bắt đầu từ việc khôi phục lòng tự tin dân tộc, có lòng tín rồi mới có thể học được, học rồi mới có trí huệ để giải quyết những vấn đề này. Do đó, năng lực phán đoán rất quan trọng. Năng lực phán đoán của một vị vua còn quan trọng hơn, vì sao vậy? Ông ấy là vua một nước, tất cả mọi người đều do ông ấy cai quản. Nếu như các quan muốn được lợi ích, đi tâng bốc nịnh nọt hoàng đế, những lời của họ nói không thể xem là chân chánh được. Vì vậy, địa vị càng cao thì khả năng phán đoán phải càng sâu sắc.

Tề Uy Vương một lần cho triệu kiến quan đại phu Tắc Mặc (một đặc khu hành chính của nước Tề tên Tắc Mặc). Kết quả, sau khi ông cho triệu kiến quan đại phu Tắc Mặc vào rồi, nói với ông ấy, “rất nhiều người bên cạnh trẫm đều nói những lời không tốt về khanh, nói khanh quản lý không tốt, tuy nhiên người mà trẫm phái riêng đến Tắc Mặc điều tra thì lại thấy rằng việc đồng áng thủy lợi khanh đã làm rất tốt, đời sống của nhân dân được an định, ấm no. Mặc dù bọn họ nói xấu khanh, nhưng trên thực tế khanh đối với nhân dân vô cùng có trách nhiệm”, nên ngay lập tức phong cho ông ấy bổng lộc rất lớn. Sau này, hoàng đế cũng triệu kiến một quan đại phu A Địa. Kết quả sau khi triệu kiến quan đại phu A Địa này rồi, Tề Uy Vương nói với ông ấy rằng, “không ít người bên cạnh trẫm đều nói những lời tốt đẹp về khanh, nhưng trẫm cũng không lập tức tin ngay. Khi trẫm phái người đến A Địa điều tra, thấy khanh lơ là việc quản lý, dùng thời gian và tiền bạc đến mua chuộc người ở bên cạnh trẫm, nhằm nói những điều tốt về khanh, nịnh bợ trẫm, do đó khanh đã không tận hết bổn phận của mình”, kết quả đã phán vị đại phu này tội chết. Sau đó, ngay cả những tên ở bên cạnh vua nhận tiền của người khác, chuyên môn nói lời tốt lành về người đó, nhanh chóng bị đem đi xử phạt hết. Chẳng mấy chốc, chính khí trong triều đình đã khôi phục trở lại, mọi người đều không dám nịnh hót, bợ đỡ, nhận hối lộ như vậy nữa, mà nhanh chóng ổn định trở lại, làm tròn bổn phận, vì nước vì dân. Một vị vua có thể nhận xét một cách sáng suốt kẻ gian tà và người hiền đức như vậy, việc này hết sức quan trọng đối với việc dùng người của ông ấy. Cho nên, “đối với cận thần không thể không thận trọng tuyển lựa”. Nếu như người ở bên cạnh mình đều biết nhận hối lộ để đi nói thay cho người khác, nghe những lời như vậy, thì sự phán đoán của quân vương sẽ bị sai lệch.

Còn có một vị quan tên Bàng Thông, ông làm quan cho Ngụy Vương. Ông cảm nhận người làm vua rất dễ dàng bị ý kiến của những người ở bên cạnh ảnh hưởng, ông ấy có nhiệm vụ đưa Thái tử nước Ngụy đến nước Triệu làm con tin. Ông ta sợ trong thời gian đó có rất nhiều người hủy báng mình, sau này vua nước Ngụy có thể sẽ không còn tin dùng ông nữa. Vị quan này rất có thiện ý nhắc nhở vua, ông đã kể cho vua nghe một câu chuyện. Bàng Thông nói: “Thưa bệ hạ, giả như hôm nay có người từ trong chợ trở về nói với Ngài rằng trên đường có hổ, Ngài có tin hay không?. Ngụy Vương nói: “Ta không tin”. “Sau đó lại có người đi chợ về nói với Ngài là, trên đường có hổ, bệ hạ có tin không?. Ngụy Vương nói: “Ta cũng hơi nghi ngờ”. “Vậy nếu có người thứ ba nói với bệ hạ rằng trên đường thật có con hổ”. Ngụy Vương nói: “Vậy thì chắc ta sẽ tin”. Sau đó, Bàng Thông nói, “thưa bệ hạ, hiện giờ thần phải đến một nơi là nước Triệu, cách cái chợ đó không biết xa đến chừng nào, sau này có thể người nói xấu thần còn vượt hơn con số ba người đó, có thể không chỉ có ba người, ba người nói thì thành ra có hổ rồi. Vậy lần này thần đi xa một chuyến, nhất định những người nói xấu thần nhiều như vậy thì bệ hạ chắc sẽ không còn tin tưởng thần nữa”. Ngụy vương nghe đến đây thì gật gật đầu, “ta hiểu ý của khanh rồi, ta biết ta nên ứng phó như thế nào, nên làm sao rồi”. Sau đó, nhân duyên của Thái tử ở nước Triệu làm con tin kết thúc, thái tử trở về, nhưng mà cũng từ đó trở đi Ngụy vương không còn triệu kiến Bàng Thông nữa.

Các vị xem, Ngụy vương lúc đó đã hứa với Bàng Thông rằng ông ta sẽ chú ý, sẽ không bị những lời sàm ngôn làm ảnh hưởng. Nói là nói như vậy, nhưng khi nghe được quá nhiều lời phê bình, sàm tấu, bản thân Ngụy vương cuối cùng cũng bị ảnh hưởng. Câu chuyện này nhắc nhở chúng ta, những lời sàm ngôn rất lợi hại. Sàm ngôn không chỉ nói đến trong mối quan hệ vua tôi nghe lời sàm tấu, mà trong quan hệ cha con, quan hệ vợ chồng, quan hệ anh em, cũng đều bị ảnh hưởng rất lớn. Cho nên tục ngữ có câu: “Cẩn thận chớ nghe nói sàm, nghe rồi ắt gặp tai ương”, tai họa sẽ đến. Lời sàm ngôn này tuy có thể giết người không thấy máu, nhưng có thể phá hoại toàn bộ mối quan hệ nhân luân. Vua mà không nghe lời sàm tấu, thì thần tử mới có thể tránh được tai ương; cha con, vợ chồng mới có thể bảo toàn như xưa. Vậy thì nghe lời sàm tấu là kết quả, nguyên nhân thì ở đâu? Ngụy vương cũng biết là không nên nghe, nhưng tại vì sao ông ta vẫn nghe? Vì vậy, có câu nói, “sàm bất tự lai, nhân nghi nhi lai”, lời sàm ngôn không tự nó đến, mà do trong tâm chúng ta có hoài nghi, nên chiêu cảm nó đến. “Gián bất tự nhập, thừa khích nhi nhập”, lời nói ly gián cũng không thể tự nó phá hoại gia đình, sự việc, mà là nó thừa cơ lọt vào. Bởi vì, giữa hai người có một vài khoảng cách, có một vài hiểu lầm, nên lời ly gián mới dễ dàng lọt vào. Vì vậy, Thánh Hiền dạy phải xem xét lại chính mình, vấn đề không phải nằm ở những lời nói của những kẻ đi ly gián, quan trọng là vì sự nghi ngờ trong lòng của chúng ta quá lớn, còn nảy sinh thành kiến với người bên cạnh, tạo thành khoảng cách, như vậy mới có chỗ hở để những lời sàm ngôn này lọt vào.

Nói đến đây, chúng ta liền nghĩ đến trong sách giáo dục đạo đức có kể về một người em chăm sóc anh của mình. Kết quả người anh trai không hề cảm kích, uống rượu say còn đánh cả anh ấy. Hàng xóm nhìn thấy đều chịu không nổi, đều phê bình anh trai của anh ấy, đến mắng người anh trai, nhưng mà người em trai này đã nói với mọi người, “mọi người đừng ly gián anh em chúng tôi, không được mắng anh tôi, anh của tôi rất tốt”. Tình cảm anh em họ không hề bị một tí ảnh hưởng nào. Những lời phê bình này không lọt vào được, mối quan hệ ngũ luân cha con, anh em, vợ chồng mới có thể tin tưởng lẫn nhau, và không có những tình huống gây ly gián xuất hiện. Được rồi, tiết học này xin chia sẻ với mọi người đến đây! Cám ơn mọi người!

HẾT TẬP 38 – Xin xem tiếp tập 39 – Quần Thư Trị Yếu 360