QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 GIẢNG GIẢI – TẬP 39

Chủ giảng: Thầy giáo, Tiến sĩ Thái Lễ Húc
Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ
Thuyết minh: Hạnh Quang
Download toàn bộ MP3



Quần thư trị yếu 360 – Tập 39

TU THÂN – TỀ GIA – TRỊ QUỐC – BÌNH THIÊN HẠ

Các vị trưởng bối, các vị học trưởng, xin chào mọi người!

“Quân đạo” của chúng ta, từ việc “tu thân”, lại nói đến “tôn hiền”,  thứ tự này cũng là y theo “Trung Dung” đã nói. Trị vì thiên hạ, quốc gia có chín cương lĩnh, nguyên tắc quan trọng, trong đó “tu thân” xếp ở vị trí đầu tiên. Có đức hạnh tốt thì mới có thể chiêu cảm người hiền đức đến giúp đỡ quốc gia, vì vậy điều thứ hai trong “cửu kinh” là “tôn hiền”. Bởi vì tôn trọng những người hiền đức, vì đức hạnh của họ, trí huệ của họ, có thể làm gương cho người trong nước, có thể đưa ra những sách lược quan trọng cho quốc gia.

Chúng tôi cũng vừa nói đến vài câu, có thể hiểu được mấu chốt của sự hưng vong quốc gia đều do việc sử dụng người tài. Chúng ta xem câu thứ 41 trong “Hán Thư”có nói, quyển thứ 3 của “Quần Thư”, trang 413, vị trí ở chính giữa trong Kinh văn.

“Văn Vương làm điều nhân đức cho nên có thể hưng thịnh nhân đức. Có được nhân sĩ và tôn trọng nhân sĩ, nhân sĩ cống hiến cho ông, ông dùng lễ nghĩa đối đãi với nhân sĩ. Cho nên nếu không đối đãi với nhân sĩ một cách từ ái và tôn trọng, thì không thể khiến họ tận trung tận hiếu, cống hiến toàn lực, không thể thành tựu sự nghiệp đất nước. Cho nên, những quân vương hiền minh thời xưa đối đãi với đại thần, tôn trọng quan tước bổng lộc của họ, thân cận họ. Đại thần bị bệnh thì nhiều lần đích thân viếng thăm, đại thần qua đời thì làm điếu văn khóc than và ăn vận tang phục, ba lần đích thân đến tang lễ. Trước khi người quá cố nhập liệm thì quân vương không uống rượu ăn thịt, trước khi người quá cố hạ huyệt thì quân vương không đàn tấu vui chơi. Khi đại thần qua đời đúng lúc miếu đình đang cúng tế thì vì họ mà bãi miễn những lễ lạc cúng tế trong miếu đình. Cho nên, thời xưa quân vương đối với hạ thần của mình có thể nói là hết sức phù hợp với lễ nghĩa, bởi vậy trong tâm hạ thần không dám không tận tâm kiệt lực, cung kính hết lòng báo đáp quân vương”. Chúng ta xem câu này, vừa mở đầu nói lên khí phách của tôn hiền Văn Vương. “Văn vương hiếu nhân”, nghĩa là thực hiện điều nhân đức. Cho nên phong cách khí nhân từ thì quốc gia hưng thịnh, đương nhiên hành động của họ cũng là nền chính trị nhân từ. Trong “Đại Học” có nói: “Nếu trong một nhà mà mọi người đều nhân hậu, thì cả nước đều có lòng nhân hậu. Nếu trong một nhà, mà mọi người đều lễ nhượng, thì cả nước đều ăn ở lễ nhượng”. Triều nhà Chu khi lập quốc, các vị thánh vương đã thực hiện tốt vô cùng, vừa hiếu vừa để, lại vừa có tâm nhân ái. Về hiếu để thì Văn Vương làm tấm gương cho Vũ Vương, Chu Công, các thế hệ đều thực hành hiếu đạo. Có một lần, Văn Vương đi ngang qua một nơi, nhìn thấy một số xương khô, ông vô cùng thương xót cho đống xương khô này không được an táng, không người cúng tế, liền nhanh chóng ra lệnh đem chôn cất tử tế đống xương này, sắp đặt cho người cúng tế. Rốt cuộc người dân biết được vô cùng cảm động, nói rằng Văn Vương nhân từ, đến cả người đã chết, đối mặt vói đống xương khô mà vẫn nhân từ như vậy, huống hồ là đối với người dân vẫn đang còn sống. “Văn Vương hảo nhân”, luôn nghĩ đến người dân, cũng nghĩ đến các hạ thần, vì vậy nền chính trị nhân từ thì sẽ khởi lên sự hưng thịnh. Trong luận ngữ nói: “Người có thể hoằng đạo”, cái đạo lý nhân từ này vẫn là dựa theo Văn Vương. Một người trí tuệ như vậy, tự lấy bản thân mình làm tấm gương làm cho khởi sắc trở lại, bởi vì ông có nền chính trị nhân từ, ông có tâm nhân từ. “Quan niệm ý thức trong thiên hạ thì  tụ họp nhau theo loại, các loài động thực vật thì phân ra theo nhóm”. Có rất nhiều người đọc sách tình nguyện vì quốc gia mà cống hiến, liền chiêu cảm đến những người bên ở cạnh họ, cho nên “đắc sỹ” là có được nhân sỹ, được sự giúp đỡ của nhân sỹ, đối với họ vô cùng cung kính. “Nhi kính chi”, tôn trọng những người đọc sách này, tôn trọng nhân cách của họ, đồng thời cảm ơn họ đã cống hiến cho quốc gia. Mà phần tôn trọng này đối với họ, “kính trọng người ta, thì người ta kính trọng lại mình”, vì vậy “tắc sỹ dụng”, những nhân sỹ này là những người đọc sách, vì quốc gia mà bổ nhiệm, vì quốc gia mà hết lòng phục vụ. “Dụng chi hữu lễ nghĩa”, trọng dụng những người đọc sách này, đối với quá trình của họ giữ gìn lễ tiết, tôn trọng tình nghĩa, sau khi các vị không dùng nữa thì đối với họ không còn cung kính, không còn đạo nghĩa.

Chúng ta xem, hiện nay chủ nghĩa công lợi đang hoành hành, đối đãi với nhân công, cấp dưới giả như dùng công lợi (nghĩa là tận lực bảo những người cấp dưới ra công mà không quan tâm đến sức khỏe, đến tình hình gia đình của họ), không phải là xuất phát từ chữ “nghĩa” này, thường xuyên không chăm sóc tốt sức khỏe, gia đình của họ. Rốt cuộc thì sức khỏe và gia đình có vấn đề, những người lãnh đạo như vậy họ không chú ý đến đạo nghĩa chút nào. Trong giai đoạn hiện nay, rất nhiều công ty đều xuất hiện người trung niên, những người tuổi tác không phải là quá lớn bị đột tử, chết đột ngột. Hiểu được nguyên nhân, rất nhiều đều là do quá vất vả, thời gian làm việc nhiều, mỗi ngày mười mấy tiếng đồng hồ. Tôi nghe những người bạn nói, giới doanh nghiệp không quan tâm đến lời nói của nhân viên. Họ cho rằng, bạn cần đồng lương của tôi, tôi thì cần cái mạng của bạn, bạn thì dùng tính mạng để đổi, dùng tính mạng để kiếm tiền, như vậy thì không phù hợp với đạo nghĩa. Nên xem nhân viên giống như là người nhà để tròn tình nghĩa, để yêu thương, hơn nữa phải tôn trọng họ, không nên làm nhục họ. Đây là lễ, là nghĩa. Hiện nay, tâm lý của các vị lãnh đạo không nên đi theo nếp sống của xã hội, mà nên đi theo Kinh điển. Phải “kính chi”, dụng phải có lễ nghĩa. “Cố bất chí kỳ ái kính, tắc bất năng tận kỳ tâm, tắc bất năng tận kỳ lực, tắc bất năng thành kỳ công”, nghĩa là giả như không thể đối đãi nhân sỹ bằng cái tâm thương yêu và kính trọng. Nếu các vị không thương yêu, không kính trọng họ, thì không thể cảm được họ hết lòng trung thành, tận tâm tận lực để thành tựu sự nghiệp của quốc gia.

Phần trước trong “phản thân”, Mạnh Tử nói, “vua xem bầy tôi như tay chân, thì bầy tôi xem vua như tim gan. Vua xem bầy tôi như chó ngựa, thì bầy tôi xem vua như người dưng. Vua xem bầy tôi như đất cỏ, thì bầy tôi xem vua như kẻ thù”. Điều này mọi người vừa phản ứng, hình như  là có thuộc câu này. Việc này đều là cảm ứng, hết thảy cảnh giới của đời người đều là do tâm mình chiêu cảm đến. Không có sự kính yêu thì không thể cảm được bề tôi, tận tâm tận lực để vua và tôi trở thành một thể để thành tựu công lao sự nghiệp. Vì vậy, “cố cổ chi hiền quân ư kì thần dã”, những vị vua hiền minh thời xưa họ đối đãi với các đại thần như thế nào? Cụ thể nói đến, “tôn kỳ tước lộc nhi thân chi”, tôn trọng, xem trọng chức tước bổng lộc của họ, đồng thời thường xuyên gần gũi với họ, xin họ chỉ bảo. Dùng chức tước, bổng lộc để thừa nhận họ, tiến thêm bước nữa là quan tâm cuộc sống, gia đình của họ. Đây chính là thương yêu, thường xuyên thân cận với họ, trưng cầu ý kiến của họ về chính sách quan trọng của quốc gia, thể hiện sự tôn trọng họ, đối với họ có sự tín nhiệm. Đây là biểu hiện của sự cung kính. Càng tín nhiệm thì họ càng sẵn lòng vì quốc vương, vì quốc gia mà dốc sức phục vụ. Giả như dùng họ mà chúng ta không thỉnh cầu ý kiến của họ, không thân thiết với họ, điều này là không có sự cung kính. Bởi vì người đọc sách họ có khí tiết, họ không phải vì tiền tài mà đến. Giả như các vị không trọng dụng họ, không nghe ý kiến của họ, dù bổng lộc có nhiều hơn đi nữa, họ cũng không sẵn lòng tiếp nhận, có thể họ sẽ bỏ đi. “Tật tắc lâm thị chi vô số”, làm quan lớn khi bị bệnh. Chữ “vô số” này nghĩa là vô số lần. Trong thời gian các đại thần bị bệnh thì nhà vua không ngừng đi thăm họ. Giống như Hoàng đế Thái Tông thời nhà Đường, quan đại thần bị bệnh (như là thừa tướng Ngụy Trưng bị bệnh), Thái Tông nhiều lần đi thăm viếng. Có một lần khi đi thăm tướng Ngụy Trưng thì phát hiện căn nhà của ông vô cùng đơn giản, vốn là hoàng thượng đang xây một cung điện, liền hạ lệnh chuyển hết tất cả gỗ đó đem giúp cho thừa tướng Ngụy Trưng xây nhà, cung điện không xây nữa. Cho nên, Thái Tông thật sự vô cùng thương yêu những vị đại thần này. “Tử tắc điếu khốc chi”, khi hạ thần qua đời, nhà vua vô cùng đau thương, buồn bã, quốc gia đã mất đi trụ cột như vậy, đích thân đi chia buồn.

Vào năm Trinh Quán thứ bảy, đúng lúc đô đốc của Tương Châu là Trương Công Cẩn qua đời. Trương Công Cẩn là trường kỳ từ khi Thái Tông còn là Thái Tử, vẫn chưa lên ngôi đã cùng với Thái Tông vào sanh ra tử, đánh qua vô số trận. Khi Thái Tông nghe tin Công Cẩn qua đời thì vô cùng bi thương đau xót, ngày thứ hai lúc cử hành lễ phúng viếng ở vùng ngoại ô, Thái Tông đích thân đến tận nơi. Vì Thái Tông khóc quá thương tâm, vị quan có trách nhiệm nói với Thái Tông, “trong sách Âm Dương có nói, hôm nay là ngày nhâm thìn, cho nên không thích hợp cho việc than khóc, như vậy là phạm vào điều kiêng kỵ”. Sau khi Thái Tông nghe xong liền nói: “Đạo nghĩa vua tôi giống như quan hệ cha con vậy, vì vậy mới gọi là quân phu. Tình cảm này tự nhiên phát ra từ nội tâm, đâu cần phải kiêng kỵ những ngày này. Đây là nghĩa cảm tự nhiên phát ra từ nơi chân tâm, chẳng có nói kiêng kỵ điều gì”, sau đó thì tiếp tục khóc. Từ việc này chúng ta đã nhìn thấy, “tử tắc điếu khốc chi”, Thái Tông đối với những vị đại thần tình thân như cha với con, như anh với em vậy. “Vị chi phục tích suy”, vì họ mà mặc đồ tang, đặc biệt là ba quỳ chín lạy những vị quan quan trọng. “Nhi tam lâm kỳ tang”, trước sau ba lần đích thân đi đến nơi chôn cất, hơn nữa lúc chưa nhập liệm thì không uống rượu, ăn thịt. Thật sự những lễ tiết này đều phù hợp với tình người. Những đại thần có cảm tình như vậy qua đời, thật sự cả việc thèm ăn cũng không có, giống như hiếu tử trong thời kỳ chịu tang cha mẹ vậy. Một số lễ tiết được quy định, thật sự cũng là thuận theo tình người, một biểu hiện rất tự nhiên, vì vậy lễ không phải là nói ai đó đã dồn hết tâm trí để quy định. Khi chưa có hạ huyệt thì không được tấu nhạc, “bất cử nhạc”. Hơn nữa, khi đại thần qua đời, đúng lúc thời kỳ cúng tế của tông miếu, cũng là vì vị đại thần này, bởi vì thương xót vị quan này qua đời, trong lúc cúng tế thì không được tấu nhạc. Cho nên, những cách làm này đã làm cho người chết được an ủi vô cùng, người còn sống thì vô cùng cảm động, vua đối với đại thần có tình nghĩa như vậy. “Cố cổ chi quân nhân giả ư kỳ thần giả”, cho nên quân vương thời xưa đối với đại thần của họ, “khả vị tận lễ hỷ”. Từ những cách làm này, thật sự là cung kính đại thần hết lòng, tận cùng của sự lễ nghi. “Cố thần hạ mạc cảm bất kiệt lực tận tử dĩ báo kỳ thượng”, người làm quan cảm nhận được sự lễ kính yêu quý của quân vương, họ cũng ghi nhớ cái ân đức này phải nên báo đáp quốc vương, báo đáp quốc gia, cũng là tận tâm tận lực. “Kiệt lực tận tử”, thái độ giống như là cúi mình tận tâm tận lực để báo đáp hoàng thượng. Mà giữa vua và đại thần có thể đồng tâm đồng đức, tất nhiên thành tích xây dựng quốc gia. Vì vậy, “công đức lợi ư hậu thế”, giống như tấm gương trị quốc thời Trinh Quán, đời đời truyền tụng noi theo. “Nhi lệnh vấn bất vong”; từ “lệnh vấn” chính là phong độ, mỹ danh, đời đời đều có người chú ý noi theo. Đây là cụ thể nói, hết thảy những vị quân vương hiền minh thời xưa thái độ lễ tiết đối đãi thuộc hạ.

Chúng ta tiếp tục xem câu 42 trong “Sử Ký”. Trong quyển thứ 2, trang 287, đoạn thứ 2, hàng thứ 2. Chu Công nhắc nhở Bá Cầm, chúng ta cùng nhau đọc qua một lần.

Chu Công nhắc nhở Bá Cầm: “Ta là con trai Văn Vương, em trai Vũ Vương, chú của Thành Vương. Đối với thiên hạ mà nói, địa vị của ta không tới nỗi thấp hèn, nhưng khi ta tắm có nhiều lần tóc phải cột lên không kịp gội, khi ta ăn có nhiều lần đũa phải gác lại không kịp ăn, phải lập tức đứng lên đi tiếp kiến hiền sĩ. Mặc dù như vậy vẫn lo sợ bỏ sót những hiền nhân trong thiên hạ. Người đến nước Lỗ nhất định không được vì có thân phận quốc quân mà coi thường người khác”. Chữ “giới” này, nghĩa là khuyên nhủ, nhắc nhở, nghĩa là dạy bảo con trai của ông là Bá Cầm. Chu Công dạy con trai của ông là Bá Cầm rất nghiêm khắc, bởi vì họ là quý tộc. Giả như không nghiêm khắc dạy bảo thì con trai rất dễ ngạo nghễ, phóng dật. Trong những câu chuyện về đức dục có nhắc đến Bá Cầm ba lần đi thăm phụ thân đều bị phụ thân xử phạt, Bá Cầm không biết nguyên nhân, sau đó thì đi hỏi ý kiến của hiền nhân Thương Tử. Thương Tử mời Bá Cầm đi xem cây tùng ở núi phía nam, cây thị ở núi phía bắc. Ông mới hiểu được cây tùng rất cao biểu thị cho người cha, cây thị tương đối thấp biểu thị cho người con, vì vậy người con đối đãi với cha, “hữu vi nhân tử chi lễ”, phải biết lễ kính cha của mình, phải biết khiêm tốn. Sau đó thì hiểu ra, gặp lại người cha thì nhanh chóng quỳ xuống lễ lạy cha của mình. Người cha rất vui vẻ an tâm, nói là Bá Cầm đã nhận được lời dạy bảo của Thánh Hiền. Từ câu chuyện này, chúng ta đã nhận thấy Chu Công thương yêu con, đó không phải là sự cưng chiều, thật sự là biết được vừa đánh vừa xoa, từ bi và trí tuệ đi cùng với nhau, dùng trí tuệ để dạy con trai của ông. Hơn nữa, ông biết thận trọng ngay từ lúc ban đầu, dạy từ lúc còn nhỏ cho đến cái nhân duyên này. Con trai của ông sắp đi đến nước Lỗ làm vua (vẫn chưa làm vua), liền nói với người con, làm vua thì phải có thái độ như thế nào? Cho nên, trí tuệ đều biểu hiện trong việc có thể nắm bắt những cơ hội như thế này. Chu Công nói: “Ta là con trai của Văn Vương, là em trai của Vũ Vương, hơn nữa là chú của Chu Thành Vương hiện thời”. Địa vị này, trong cả thiên hạ đứng sau Chu Thành Vương, hơn nữa Thành Vương cũng vô cùng tôn kính chú của ông. Chu Công nói: “Ta so với người trong thiên hạ có lẻ không thấp kém”. “Bất tiện hỷ”, Chu Công rất khiêm tốn, khiêm tốn mà nói là không thấp kém, thật sự địa vị của ông vô cùng cao quý. Ông ở địa vị cao như vậy, nhưng mà vô cùng khiêm tốn, quyết định không vì địa vị mà sanh ra kiêu ngạo, xa xỉ.

Trong “Hiếu Kinh” nói: “Tại thượng bất kiêu, cao nhi bất nguy, chế tiết cẩn độ, mãn nhi bất dật”, mặc dù thân làm cao quan, nhưng không có chút lòng kiêu ngạo, vậy thì ăn trên ngồi trước cũng sẽ không gặp phải nguy hiểm. Nếu mọi việc đều tiết kiệm, tuân thủ pháp luật, kho phủ kinh phí đầy đủ cũng sẽ không xa xỉ lãng phí. Không kiêu ngạo, không xa xỉ, thì mới có thể duy trì được sự phú quý. Mà có được sự phú quý thì điều quan trọng hơn là, “hòa kỳ dân nhân”, nghĩa là chăm sóc người dân. Triều nhà Chu phong thưởng cho chư hầu, mà phân cho chư hầu quan trọng là để những chư hầu này thay thế Chu Vương yêu thương nhân dân thật sự. Họ nhận mệnh lệnh của thiên tử, họ phải trung thành với sự tín nhiệm của thiên tử, phải tận tình thương yêu người dân, không đi tác oai tác quái. Chu Công giúp đỡ Thành Vương, muốn vì quốc gia mà đưa ra nhiều chính sách trọng đại, cần rất nhiều người hiền đức để đề xuất ý kiến, tiếp thu ý kiến hữu ích. Vì vậy, chỉ cần có người hiền đức đến chào thì Chu Công lập tức khiêm tốn lễ phép đi đón tiếp, để lắng nghe ý kiến của họ, thường xuyên gặp gỡ rất nhiều hiền sĩ. Có lúc, khi hiền sĩ đến đúng lúc ông đang gội đầu, hiền sĩ đã đến rồi ông không dám thất lễ, ông luôn cung kính với người, nhanh chóng chỉnh sửa tóc ngay ngắn, vẫn chưa gội đầu xong thì đi gặp các vị hiền này. Mỗi lần gội đầu là phải gián đoạn mấy lần. “Nhất phạn tam thổ bộ”, mỗi lần ăn cơm đúng lúc có hiền sĩ đến, ông phải dừng ăn cơm lại, phải nhanh chóng đi gặp, vì vậy ăn một bữa cơm phải dừng lại mấy lần. Từ chỗ này nhìn thấy được sự tôn trọng người hiền đức của ông, thái độ cung kính. “Khởi dĩ đãi sĩ”; chữ “khởi” này nghĩa là nhanh chóng đi gặp gỡ những vị hiền sĩ. “Do khủng thất thiên hạ chi hiền nhân”, trong lòng rất lo sợ thất lễ với những vị hiền sĩ, làm cho quốc gia mất đi cơ hội sử dụng những vị hiền tài này. Thật sự là chí công vô tư, vì quốc gia mà có tâm nâng đỡ người tài. Chu Công lấy bản thân mình làm thân giáo để khuyến khích con của ông, vì vậy ông nói với người con khi con đi đến nước Lỗ, “tử chi Lỗ”. “Thận vô dĩ quốc kiêu nhân”; chữ “thận” này nghĩa là phải cẩn thận lo sợ, không nên lấy thân phận quốc vương thất lễ với người tri thức, xem thường người tri thức, đây là điều sai lầm rất nghiêm trọng. Cho nên, người có địa vị càng cao thì phải càng khiêm tốn.

Trong một tác phẩm Ngụy đại nhân khuyên Đường Thái Tông hoàng đế, chúng ta đã học qua, “Gián Thái Tông Thập Tư Sớ”. Trong mười điều này có nhắc đến, “niệm cao nguy”, ở vị trí cao như vậy. “Tắc tư hư tâm dĩ nạp hạ”, nên khiêm tốn lắng nghe ý kiến của người khác. Thái độ khiên tốn, tiếp nhận ý kiến của cấp dưới, tuyệt đối không nên bảo thủ cố chấp. Cho nên cái đức khiêm tốn này, quẻ sáu hào đều tốt. Trong sáu mươi bốn quẻ, duy nhất chỉ có quẻ sáu hào này là tốt lành. Mà trước đây chúng ta, mọi người cũng đã cùng nhau xem qua một đoạn văn trong “Thuyết Uyển”, chính là Khổng Tử dắt học trò đi tham quan Thái Miếu. Khi nhìn thấy cái vò đựng nước dùng dây treo, khi không có nước thì nó bị nghiêng lệch, sau khi chứa nước thì nó nằm chính giữa, nhưng mà nước quá nhiều thì nó sẽ đổ xuống, đổ hết  sạch, vì vậy chẳng khác nào sự tự mãn thì sẽ bị thất bại, nên phải tuân theo trung đạo. Tử Lộ lúc đó liền hỏi Khổng Tử: “Thưa Phu Tử, có thể cách nào có thể duy trì sau khi không bị thiên lệch không?”. Cũng chính là nói, có cách nào để duy trì mãi sự giàu sang không bị suy sụp không? Phu Tử tiếp tục nói: “Cao nhi năng hạ”, địa vị rất cao có thể thường xuyên cúi xuống. “Mãn nhi năng hư”, rất là giàu sang, có học thức rất tốt, nhưng mà có thể khiêm tốn, không thỏa lòng đắc chí. “Mãn nhi năng hư, phú nhi năng kiệm”, có rất nhiều tiền nhưng mà tiết kiệm, không tiêu xài hoang phí.

Chúng ta nhìn xem, hiện nay nhiều nhà doanh nghiệp thật sự có rất nhiều tiền, họ che giấu sự giàu sang, không xa xỉ, che giấu sự giàu sang để dạy con cái. Nếu để con cái biết họ có nhiều tiền, thì con cái sẽ không nổ lực, sẽ không có ý chí, hơn nữa tiết kiệm thì mới duy trì được sự giàu sang. “Phú nhi năng kiệm, quý nhi năng ti”, thân phận cao quý, nhưng mà có thể khiêm cung tôn trọng người khác. “Trí nhi năng ngu”, có trí tuệ nhưng mà không kiêu ngạo, không tự cho mình là đúng. Trong tâm còn có thể cảm thấy rằng, núi này cao thì còn núi khác cao hơn, người này cao thì có người khác cao hơn để trị, cảm thấy bản thân mình vẫn chưa hoàn thiện, vẫn còn ngu dốt, gọi là “trí nhi năng ngu”. “Dũng nhi năng khiếp”, rất dũng mãnh, nhưng mà biết được cảnh giác lo sợ để xử lý công việc. Đặc biệt giả như ra nước ngoài chinh chiến, tuy là dũng mãnh nhưng mà đánh nhau đều có thể bị thương vong thì không thể không cẩn thận, làm mà phải lo sợ.“Dũng nhi năng khiếp”, luôn luôn cẩn thận lo sợ thì đây mới là vô cùng dũng cảm, như vậy mới có thể thành tựu được sự việc, hữu dũng vô mưu thì sẽ hỏng việc. “Biện nhi năng nột”, biện tài vô ngại nhưng giấu kín tài năng không khoe khoang. Có thể từ tốn nghĩa là không khoe khoang, biết giảm bớt sự phóng túng. “Bác nhi năng hiển”, học vấn uyên thâm, nhưng mà tự cảm thấy vẫn còn nông cạn. “Minh nhi năng ám”, thông suốt rất nhiều sự việc, nhưng mà không hà khắc, có những lúc làm ra vẻ không biết rõ, cho người ta lối thoát, gọi là sự mơ hồ hiếm có. Có những lúc người ta quá thông minh lanh lợi khăng khăng quá hà khắc, không để cho người ta giữ thể diện, như vậy thì không tốt. Đây là bài ôn tập của chúng ta.

Trong phần trước của “Thuyết Uyển”, lời khai thị dạy bảo của Khổng Lão Phu Tử rất hay, chúng ta tiếp tục xem câu 43 trong quyển thứ 9, trang 1.207. Trước tiên, chúng ta cùng nhau đọc qua Kinh văn một lần. Hàng thứ ba, từ dưới đếm lên.

“Phải suy nghĩ đến mười điều nguy nan trong việc trưng dụng hiền tài nhân sĩ. Một là không có sự sáng suốt trong việc nhận biết người. Hai là nhận biết người nhưng không thể đề cử. Ba là đã đề cử nhưng không thể dùng cho đúng. Bốn là dùng người nhưng có trước mà không có sau. Năm là vì những oán ghét nhỏ mà quên đi những phẩm đức đáng quý của họ. Sáu là vì những sai sót nhỏ mà phế bỏ công lao to lớn của họ. Bảy là vì những khuyết điểm nhỏ mà che mất những điều tốt đẹp lớn lao của họ. Tám là vì sự công kích của những người gian tà mà làm tổn hại đến hiền sĩ trung chánh. Chín là vì các thuyết tà đạo mà làm nhiễu loạn pháp độ chính quy. Mười là vì những lời đàm tiếu, đố kỵ mà phế truất hiền tài nhân sĩ. Đó gọi là mười điều nguy nan, nếu không trừ bỏ mười nguy nan này thì hiền thần không được trọng dụng. Hiền thần không được trọng dụng thì quốc gia không còn là quốc gia nữa”.

Ở đây phân tích vô cùng chi tiết, vô cùng thấu triệt. Vừa bắt đầu chúng ta thấy đã nhắc đến, duy chỉ có thể suy nghĩ, chăm sóc, bổ nhiệm người hiền tài. Có mười điều nguy nan cần phải khắc phục, muốn bổ nhiệm người hiền tài cũng chẳng phải dễ. Sự phân tích này chúng ta có thể từ góc độ này nên chú ý, thì mới có thể thật sự dùng tốt người hiền đức. Đây là kinh nghiệm vô cùng quý báu đối với hết thảy đoàn thể, đều là sự chỉ bảo quan trọng.

Thứ nhất, “nhất viết bất tri”, nghĩa là có người hiền tài nhưng mà không biết, không nhận ra được thật sự người hiền tài. Điều quan trọng chính là có đạo đức. Chúng ta từ ngũ thường – bát đức mà phán đoán, thì có lẽ sẽ không bị thiên vị. Ngũ thường là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; bát đức là: hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỹ. Thời xưa chọn người hiền tài, tiêu chuẩn là hiếu và lễ. Hiếu thì đã có nền tảng của đức hạnh, liêm thì không tham ô, có nền tảng của việc giải quyết công việc. Vì vậy, nhận biết người đều phải từ cái nền tảng của đức hạnh mà xem xét. “Đức giả bổn dã”, mà xem xét cũng không nên xem xét bề ngoài, phải xem xét thấu đáo. Giả như chúng ta nói: “Anh ấy đối xử với tôi rất tốt, anh ấy có tâm nhân từ”, điều này thì quá hời hợt. Anh ấy đối xử tốt với tôi, nhưng đối xử với người khác có tốt hay không? Anh ấy đối xử tốt với các vị, đối xử với người khác không tốt, vậy anh ta đối xử tốt với các vị cũng là giả. “Nhất chân, nhất thiết chân”, nếu trái tim thương yêu của anh ấy là thật, thì sự thể hiện đối với tất cả mọi người đều là thương yêu. “Nhất vọng, nhất thiết vọng”, anh ta đối xử với một người rất kiêu ngạo, rất vô lễ, rất hà khắc, vậy anh ta đối xử những người khác tốt thì cũng là có mục đích. Phải phán đoán như vậy thì mới hiểu rõ.

Trong “Trung Dung” có một đoạn nói, việc nhận biết được người là lời giáo huấn vô cùng tốt. “Tại hạ vị”, một người ở địa vị là một vị quan; “bất hoạch hồ thượng”, nghĩa là không được sự thừa nhận của cấp trên; “dân bất khả đắc nhi trị hỷ”, vì vậy ông ấy rất khó làm những việc lợi ích cho dân. Trước tiên, vị đó phải được sự tin tưởng, ủng hộ của nhà vua. “Hộ hồ thượng hữu đạo”, những người lãnh đạo, quốc vương ủng hộ ông ấy; “bất tín hồ bằng hữu”, nhưng mà đồng nghiệp của ông ấy hoàn toàn không thừa nhận, không ủng hộ; “bất hoạch hồ thượng hỷ”, ông ấy được sự thừa nhận của cấp trên, vậy là ông ấy phải nịnh bợ, rất vâng lời cấp trên mà không phải là thật sự dùng tâm chân thành để thực hiện. Bởi vì tâm chân thành có thể cảm động quân vương, cũng có thể cảm động bạn bè ở xung quanh thì mới đúng. Cho nên rất nhiều tình huống trở thành điều gì? Đối với lãnh đạo thì rất tốt, đối với đồng nghiệp thì rất kiêu ngạo, đây không phải là người thật sự có đức.

Câu nói xem xét người trong “Trung Dung” nói, đánh giá người phải xem từ tâm địa, xét từ sâu thẳm bên trong thì mới chuẩn được. “Tín hồ bằng hữu hữu đạo”, ông ấy đối xử tốt với lãnh đạo, với bạn bè, nhưng mà “bất thuận hồ thân”, trở về nhà thì đối xử vô cùng hung dữ với cha mẹ. Chúng ta tuổi tác như thế này, loại người như vậy không ít, vì sao vậy? Do tự tư tự lợi, đối xử tốt với người cũng là có mục đích. Rốt cuộc trở về nhà thì ngược lại bất kính với cha mẹ, những người như vậy cũng không nên dùng. Mà, “thuận hồ thân hữu đạo, phản chư thân bất thành”, xem ra thì rất thuận thảo với cha mẹ, nhưng mà cái tâm của ông ta không phải là thật, là làm để cho người khác xem, sợ người ta nói ông ta bất hiếu. Nhận được thiện cảm của mọi người nhưng trong tâm thì đang oán giận cha mẹ, vẫn còn trách mắng cha mẹ, điều này gọi là mắng chửi thầm, việc này rất hao tổn âm đức, nhưng mà người thông thường cũng không nhìn nhận ra được. Cho nên, hiếu thuận với cha mẹ là từ trong tâm chân thành biểu lộ ra bên ngoài. “Thành thân hữu đạo”, thật sự là rất chân thành; nhưng mà “bất minh hồ thiện”, họ không phán đoán được đúng sai, thiện ác, như vậy cũng không được.

Phần tin tức thời sự có đưa tin, có một người con  rất hiếu thảo muốn trị bệnh cho mẹ đã đi cướp ngân hàng. Đây chính là, “bất minh hồ thượng”, việc này vô cùng ác mà không biết, quá nông nổi. Các vị nói anh ta bất chấp sự nguy hiểm phải ngồi tù vì muốn trị bệnh cho người mẹ, việc này cũng không đơn giản, rất chân thành, nhưng mà không hiểu được lý lẽ, rốt cuộc người quá đau khổ, quá hối hận vẫn là mẹ của anh ta. Vì vậy, đoạn này trong “Trung Dung” là để cho chúng ta hiểu được người như thế nào mới là có hiếu, có tâm chí thành, hơn nữa cũng phải biết được đúng sai, thiện ác, như vậy mới là người hiền đức.

Vậy chúng ta đã biết phán đoán rồi, phần “tri nhân” này, phía sau vẫn còn có một chương chuyên nói đến.

HẾT TẬP 39 – Xin xem tiếp tập 40 – Quần Thư Trị Yếu 360