QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 GIẢNG GIẢI – TẬP 4

Chủ giảng: Thầy giáo, Tiến sĩ Thái Lễ Húc
Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Viên Đạt Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ
Thuyết minh: Hạnh Quang
Download toàn bộ MP3



Quần thư trị yếu 360 – Tập 4

Không những thiên tử phải có thái độ thận trọng như vậy, kỳ thực ngày nay chúng tôi tiếp nối truyền thừa văn hóa truyền thống, chúng tôi đang làm công tác hoằng dương, rất nhiều người đến cũng đều là xem chúng tôi, chúng tôi phải dẫn đầu vậy, không thể dẫn dắt sai đường được. Cũng không thể bởi vì chúng tôi được học sớm mà kiêu căng tự phụ, như vậy thì đã lạc vào tà đạo rồi, vẫn là phải có thái độ “lẫm hồ ngự hủ” như vậy. Như nước trên băng mỏng, không dám sơ sài, không dám buông lung lời nói việc làm của mình, luôn kỳ vọng chính mình.“Động nhi thế vi thiên hạn đạo, hành nhi thế vi thiên hạ pháp, ngôn nhi thế vi thiên hạ tắc”, như vậy thì có thể “tự cường bất tức”, chính là cả ngày đều rất cần cù. “Kiền kiền kịch thích”, nghĩa là không dám buông lung giải đãi, “nghĩa tại tư hồ”. Những cổ Thánh tiên Vương này vì sao lại có thể tự mình vươn lên như vậy? Cần cù không giải đãi, nhất định chính là họ có trách nhiệm đối với lão bá tánh, có trách nhiệm đối với đời sau, cho nên họ mới có sự cẩn thận đến như vậy, có cái đức phong như vậy. Cũng giống như Văn Thiên Tường đã nói: “Lưu chút lòng son chiếu sử xanh”. Có tấm lòng như vậy, cho nên họ những cổ Thánh tiên Vương này phải làm gương, và còn đem những Kinh điển tốt và lịch sử để truyền lại cho đời. Chúng ta hiện nay tuy rằng không phải làm quan nhưng mà đối diện với vấn đề truyền thừa văn hóa chúng ta cũng phải có tấm lòng như vậy. Mỗi lời nói việc làm đều làm gương, tiếp đến cố gắng dốc sức tiếp nối kế thừa văn hóa.

Chúng ta xem tiếp đoạn tiếp theo: “Cận cổ hoàng vương, thời hữu soạn thuật”. Thời cận đại tương đối gần với thời của họ, những đế vương này cũng thường có hành động biên soạn Kinh điển. “Tính giai bao quát thiên địa, lao lung quần hữu”, vả lại nội dung mà họ thu thập có thể xem như bao gồm cả trên trời dưới đất đều có. Chữ “lao lung” này là bao quát, bao hàm. “Quần hữu” là chỉ vạn vật trong vũ trụ này, thật sự là thu tập được vô cùng phong phú, khách quan. Nhưng mà tuy thu tập được rất nhiều, nhưng cánh thái phù diệm chi từ”. Chữ “cánh” này chính là cạnh tranh, giống như đã hình thành một loại nếp sống, đều áp dụng hào nhoáng bên ngoài, chỉ là thuật ngữ, văn phong hoa mỹ. “Tranh trì vu đản chi thuyết”, nghĩa là tranh đoạt mưu cầu theo đuổi những sự việc hoang đường vô lý, ghi chép lại. “Sánh mạc học chi bác văn”; chữ “mạt học” này nghĩa là tương đối nông cạn, không có nắm được học vấn căn bản. Học ngược lại, lại khoe khoang, giống như cảm thấy chính mình thật sự học sâu hiểu rộng. Kỳ thực cái hiện tượng này rất có khả năng.

Người xưa đối với phương diện trị học thì họ xếp là đức hạnh hàng đầu, không phải xếp ngôn ngữ văn chương làm đầu. Cho nên trong “Đệ Tử Quy” nói: “Có dư sức thì học văn”. Nền tảng đức hạnh không có, đọc sách nhiều nhưng lại đều là để đem khoe khoang, vậy thì thật không tốt. Cho nên thời đại khi đó, đặc biệt là thời Nam Bắc triều (Ngụy Tấn Nam Bắc triều) đặc biệt là văn phong đều trở thành chú trọng cân nhắc vấn đề văn từ hoa mỹ, tạo thành việc xem trọng văn Biền Ngẫu. Xem trọng những kỹ năng này mà xem nhẹ đức hạnh, cho nên mới có những văn nhân thời Đường Tống chấn hưng lại cổ văn, không đi theo lối sống không tốt đó nữa. Cho nên gọi là Đường Tống bát đại gia, hiển chánh phá tà, dùng văn chương diễn đạt đạo lý, làm sao lại đem đi khoe khoang văn phong hoa mỹ.

Tiếp đến lại nói: “Sức điêu trùng chi tiểu kỹ”. Đây đều là việc che đậy cái học thức nông cạn của chính mình mà bản thân chính mình còn chưa phát giác, vẫn là dương dương tự đắc, lưu luyến không rời, là “lưu đãng vong phản”, “thù đồ đồng chí”. Nghĩa là những thứ mà họ thu thập được rất là rộng rãi, sau đó thì văn chương phơi bày ra thì rất là hoa hòe phù phiếm. “Thù đồ” nghĩa là biểu hiện ra hình thức không như nhau. “Đồng chí” nhưng thực chất gần như nhau, đều không phải là học vấn có thể trị nước tế thế coi trọng thực tế, không có cách nào để an định xã hội. “Tuy biện châu vạn vật, dũ thất tư khế chi nguyên”, tuy rằng dường như những trước tác luận thuật này mang tính tri thức rộng khắp nhiều phương diện, rất tường tận. “Thuật tổng bách đoan”; chữ “thuật” có lẽ là phương pháp sáng tác, phương pháp sử dụng để sáng tác rất nhiều, kỹ xảo biểu hiện ra cũng rất nhiều. “Quai đắc nhất chi chỉ”, bởi vì cách mà họ thể hiện rất nhiều nhưng vẫn là thổi phồng.

Khổng Tử nói: “Từ đạt nhi dĩ hỷ”, bất luận là ngôn ngữ hay văn chương, quan trọng nhất vẫn là đem nghĩa lý của nó nói rõ ra, không phải là để khoe khoang văn chữ. Mà chữ “quai” này là làm trái ngược, kỳ thực là bỏ gốc lấy ngọn. “Đắc nhất”; chữ “nhất” này kỳ thực là được đạo, bạn không thể trái nghịch với đạo. Mạnh Tử nói: “Học vấn chi đạo vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ hỷ”, tất cả đạo đức văn chương đều là phải hồi quy bổn tánh, trừ bỏ tập khí, đây mới là tông chỉ quan trọng nhất của học vấn. Tâm thái mà không đúng thì rất khó có thể thu thập được những cổ tích tốt phù hợp với đạo đức, phù hợp với việc trị nước tế thế lý luận thực tiễn, hiệu quả thực tế họ sẽ không biên soạn ra được. Chúng ta hãy xem đoạn tiếp theo.

“Hoàng thượng dĩ thiên tung chi đa tài, vận sanh tri chi duệ tư, tánh dữ đạo hợp, động diệu cơ thần”. Chúng ta vừa mới nói đến nhìn thấy việc tốt thì tùy hỷ tán thán, cho nên Ngụy đại nhân cũng là tùy hỷ tán thán những phẩm chất tốt của Hoàng thượng. Trong “Hiếu Kinh” có nói: “Sự quân chương, tiến tư tận trung, thối tư bổ quá, tương thuận kỳ mỹ”, hoàng thượng có tâm cảnh tốt đến như vậy, có chí hướng to lớn đến như vậy, toàn tâm toàn lực tùy hỷ thành tựu cho ông. Đương nhiên sự tán thán này cũng là có thể khích lệ cho hoàng thượng, và đương nhiên Ngụy thừa tướng là một người rất trí tuệ, vừa cổ vũ mà cũng vừa thúc giục hoàng thượng. Ví dụ như ông nói với hoàng thượng: “Nếu đã bắt đầu thì không nên bỏ cuộc nữa chừng”. Có không ít người tuy rằng có sự mở đầu tốt, nhưng rất ít người có thể trước sau vẹn toàn, sau khi khích lệ đồng thời cũng kỳ vọng, nhắc nhở phải luôn giữ gìn. Chân thậh là Thái Tông Hoàng đế cũng là có thiên chất rất thông minh, đa tài đa nghệ, học cái gì cũng rất nhanh. “Vận sanh tri chi duệ tư”; chữ “sanh tri” này chính là ông vận dụng những thiên phú tốt đẹp vốn có của mình, suy nghĩ cặn kẽ khi đối diện với sự việc. Và còn: “Tánh dữ đạo hợp”, tán thán Thái Tông bản tánh thiện lương, tương ưng với thiên đạo. Ông trời có đức hiếu sinh, bản tánh tương hợp với thiên đạo mà còn “động diệu cơ thần”, tất cả những hành vi động tác đều là rất tinh vi thần diệu. Có lẽ đều đã tỉ mỉ suy nghĩ một cách thấu đáo, có thiên bẩm tốt lại thêm việc chịu hạ công phu, biết suy nghĩ cho nhân dân cho nên đã đạt được hiện trạng chính trị như thế nào.

Tiếp theo nói: “Huyền đức tiềm thông”. “Huyền đức” là chỉ đạo đức sâu dày của hoàng thượng trong âm thầm đã cải thiện được nếp sống của xã hội. Chúng ta phải nên hiểu loạn thế một – hai trăm năm, sau đó Đại Đường dưới sự trị vì của Thái Tông Hoàng đế thì tất cả đã an định trở lại, thật sự trong một khoản thời gian rất ngắn thì quốc thái dân an, xã hội an định trở lại. “Hóa tiền vương chi sở vị hóa”, nghĩa là tán thán tình trạng này của Đại Đường vượt qua cả những sự an định mà các đời vua trước đạt được, vượt hơn các vị quan đời trước trong việc trị lí tình hình xã hội.

“Tổn kỷ lợi vật, hành liệt thánh chi sở bất năng hành”. Các vị xem trong phần lời nói, Ngụy đại nhân niệm niệm đều là thành tựu Quân vương trở thành Thánh vương. Thần tử như vậy là một đại trung thần, hy vọng đức hạnh của Thái Tông Hoàng đế có thể sánh ngang với cổ Thánh tiên Vương. Cho nên khẳng định Thái Tông là “tổn kỷ lợi vật”, chính là o ép chính mình lợi ích cho bá tánh, như vậy cũng như đã hoàn thành được sư nghiệp mà các Thánh Hiền đời trước chưa hoàn thành được. Những tiên vương này đều là học trò của Khổng Tử, họ đều có thể lấy “lễ vận đại đồng thiên” làm lý tưởng. Đó chính là học trò tốt của Khổng Tử, thật sự đã làm được, đích thực là làm được những việc mà Thánh Hiền đời trước chưa làm được, như vậy thì Phu Tử ở trên trời có linh thiêng thì cũng cảm thấy an ủi. Chữ “tổn kỷ lợi vật này” đích thực cổ Thánh tiên Vương đều đã thực tiễn được vô cùng triệt để. Cũng như khí phách của Đại Vũ ở trong “Luận Ngữ”, Phu Tử đã tán thán là, “ta thật không tìm ra được chỗ không tốt của Đại Vũ”. Ông tự mình sống thật sự là không tốt, chịu thiệt thòi, đem số tiền tiết kiệm được đi làm các công trình thủy lợi để cho lão bá tánh trải qua cuộc sống tốt đẹp. Tự mình ăn uống không ra làm sao nhưng khi tế bái tổ tiên thì đều vô cùng chân thành, vật phẩm thiết lễ đều rất phong phú. Bản thân ăn mặc quần áo rất mộc mạc nhưng khi thượng triều thì đều ăn mặc vô cùng long trọng. Đó chính là cung kính đối với thần dân.

Tiếp theo lại nói đến: “Hàn hải long đình chi dã, bính vi quận quốc”. “Hàn Hải” là chỉ tên của vùng Bắc Hải, hoặc là chỉ sa mạc Gobi, kỳ thực chính là chỉ dân tộc phương bắc. Cũng giống như Hung Nô, những dân tộc thiểu số này. “Bính vi”; chữ “bính” này chính là quy phục sát nhập Đại Đường thành chung bờ cõi, trở thành một quận của Đại Đường, thành một số khu hành chính. “Phù Tang nhược mộc chi vực, hàm tập anh miện”. Chữ “Phù Tang” này là tên một nước ở phía đông thời xưa, là tên một quốc gia. “Phù Tang nhược mộc” vốn ban đầu là chỉ cây, sau đó đều dùng để chỉ tên của quốc gia, đại biểu rất nhiều quốc gia trên thế giới; những bộ lạc đông tây này, kỳ thực dân tộc quốc độ của họ. “Hàm” chính là hết thảy, “tập” là chỉ quần áo mà họ mặc. Chế độ phong tục của họ đều noi theo Đại Đường, như là loại nón chụp đầu hay nón cột quai, bởi vì chế độ phong tục cũng là một cách thể hiện văn hóa.

Đoạn này kỳ thực chúng ta từ trong lịch sử chứng minh được Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam rất nhiều những nước láng giềng đã cử phái rất nhiều học trò đến học tập văn hóa của Triều Đường, thậm chí là làm theo một số phương thức trong đời sống, cho nên “thiên địa thành bình”, thiên hạ thái bình. Đường Thái Tông được người của các nước trên thế giới phong là Thiên Khả Hãn, là cộng chủ của thiên hạ. “Ngoại nội tri phúc”; chữ “tri” này có nghĩa là an vui yên bình, trong ngoài nước đều an vui hạnh phúc, có thể đạt đến sự thịnh thế như vậy. Thái Tông còn: “Do thư vi nhi bất thị”, làm được nhưng vẫn không  thấy mình cao, không lấy đó làm tự mãn. “Tuy hưu vật hưu”, có thể trị vì thiên hạ đạt đến công lao sự nghiệp như vậy không đơn giản, có lẽ có thể nghỉ hưu được rồi nhưng vẫn rất cần cù không giải đãi. “Phủ hiệp Nghiêu Thuấn, thức tuân kê cổ, bất sát mạo hồ chỉ thủy, tương cử giám hồ triết nhân”, không dám buông lung mà còn “phủ hiệp”. Chữ “phủ” này là ngưỡng vọng, tôn sùng, chính là noi theo Nghiêu Thuấn, sau đó học tập. Chữ “thức” này chính là ý nghĩa noi theo; học tập, tôn sùng những cổ Thánh tiên Vương. Chữ “kê” này chính là khảo sát, tìm hiểu khí phách của họ, tiếp đến là đi theo họ. Còn chữ “bất sát” chính là không những chỉ là việc soi chiếu dung nhan của mình trên mặt nước phẳng lặng mà còn càng thêm một bước nữa “cử giám hồ triết nhân”. Chính là lấy những Thánh Hiền nhân làm gương cho chính mình, ngày ngày học tập noi theo họ. Cho nên cái này gọi là: “Đức bì ư thượng tắc tri sỉ”, ông lấy thánh nhân làm gương, mỗi ngày hổ thẹn, mỗi ngày quán sát điều chưa đủ, mỗi ngày nâng cao, cho nên thật sự là không dễ dàng. “Vi nhi bất thị”, “tuy hưu vật hưu”, chính là ông chí tại Thánh Hiền, không hề tự mãn. Mà dù Thái Tông Hoàng đế noi theo vua Nghiêu Thuấn, ông muốn “giám hồ” những vị thánh nhân này lấy họ để làm tấm gương, ông đã thu thập những điển tích này. “Dĩ vi”, trong quá trình thu thập, Thái Tông Hoàng đế đã cảm nhận được “lục tịch phân quan”. Giáo huấn trong lục Kinh vẫn là tương đối nhiều, Kinh còn cả sử, bao hàm cả chư tử, gọi là “Bách Gia Suyễn Bác”. Đây là bách gia chư tử cũng vô cùng không thống nhất, cảm thấy dường như cũng không biết làm sao để mà nắm được cương lĩnh, làm sao để mà bắt đầu. Một số để có thể thấu đáo đến tận cùng lý lẻ chính là thâm nhập những Kinh điển này. Bởi vì nó quá kềnh càng, dụng công cũng không thể thuần nhất, cũng như việc cầu học vấn quan trọng nhất là phải nhất môn thâm nhập”, phải quý ở chuyên. Bạn mà học quá hỗn tạp thì dường như cũng không nắm được tinh túy của nó, nắm không được cương lĩnh thì sẽ rất khó đạt được đến chỗ tột cùng của lý lẽ, những nghĩa lý đó thì bạn sẽ không thể nào thông thấu được. Do đó cảm thấy làm mà không có hiệu quả, bỏ ra rất nhiều tinh thần, cảm thấy không đúng phương pháp, không thể có được lợi ích. “Châu lãm phiếm quan, tắc bác nhi quả yếu”, chỉ cần xem đọc rộng rãi, tiếp thu, cảm thấy dường như rất sâu rộng, nhưng mà lại không nắm được cương yếu. Cho nên đích thực chúng ta nhìn thấy chỗ này, ở tại thời đại của chúng ta cũng có cái cảm giác này.

Bạn nói xem, “Tứ Khố Toàn Thư” 1.500 quyển, từ đâu mà bắt đầu? Không phải Sư trưởng nói đó là hạ thủ từ “tam căn”? Chúng ta thật sự là không thể tìm ra được cửa ra. Giáo sư Thang Ân Tỷ đã nói hơn ba mươi năm rồi. Xã hội càng ngày càng loạn, ông nói không sai, nhưng mà chúng ta không có trí huệ, không thể đọc hiểu hết tất cả được. Vừa nghĩ đến học thuyết Khổng Mạnh thì nói đến “Tứ Thư Ngũ Kinh”, “Thập Tam Kinh”, đó chỉ là hoa quả. Hoa quả là mọc ra từ cành nhánh, cành mọc từ thân, thân lên từ gốc, gốc lại ra từ rễ, bạn phải có gốc rễ thì học vấn của bạn mới có nước để mà sống. Đó là từ tam căn mà hạ thủ.

Tiếp đến nói: “Con người có thiện nguyện thì trời tất sẽ thuận theo”. Từ “Quần Thư Trị Yếu” mà bắt đầu, từ “Quốc Học Trị Yếu” mà bắt đầu thì có thể nắm được cương lĩnh. “Cố viên mệnh thần đẳng”, thế là đã ra lệnh cho ta và mấy vị đại thần. “Thái trích quần thư”; chữ “thái trích” này nghĩa là tuyển chọn trích dẫn, chọn lọc ghi chép lại bộ phận tinh yếu trong Quần Thư.

Chúng ta cũng vừa mới nói đến hơn 14.000 bộ sách, trong số hơn 89.000 quyển tuyển chọn ra 500.000 chữ, đích thực là công đức vô lượng. Chúng ta thật sự rất cảm ơn những người trong nhóm đó của Ngụy Thừa Tướng mà “tiễn tiệt dâm phóng”. Chữ “tiễn tiệt” này là loại trừ những cái viễn vông không thực tế. Đối với tu- tề -trị những bộ phận không tương ưng thì đều loại bỏ hết, sau đó lại hy vọng có thể “quang chiêu huấn điển”. Chữ “quang chiêu” này chính là phát dương quang đại, hy vọng thu thập lại những tinh hoa này để cho hiện tại và đời sau những người lãnh đạo và những người có duyên sau khi xem xong có thể nắm được những cương lĩnh này, tiếp đến là có thể đem những học vấn này phát dương quang đại.

Tiếp theo chúng ta xem đoạn kế tiếp: “Thánh tư sở tồn, vụ hồ chánh thuật”, cũng có nghĩa là ý muốn của hoàng thượng. Chữ “vụ” này chính là ông rất xem trọng, đó là “chính thuật”, đó là kế sách chung để trị vì đất nước. “Xuyết tự đại lược”, chúng ta từ trong quần thư chọn lấy ra những phương sách quan trọng này, những trọng điểm này. “Hàm phát thần trung”; chữ “hàm” này chính là đều phát xuất từ ý chỉ của hoàng thượng, y theo mong muốn của hoàng thượng là những học vấn về tu- tề – trị – bình. Chữ “thần trung” này; “trung” là nội tâm, vì đây là nội tâm của thần minh, đây cũng là việc tán thán Thái Tông Hoàng đế, y theo ý chỉ của Hoàng thượng mà biên soạn ra. “Nhã chí câu thâm”; chữ “nhã chí” này là chỉ những bộ phận tuyển chọn ra này, đều là rất tinh hoa, rất nho nhã. “Câu thâm” là chỉ những giáo huấn này đều là những tư tưởng hết sức sâu sắc. “Quy mô hoằng viễn”; “quy mô” cũng nghĩa là bắt chước làm theo Thánh Hiền nhân đã hoằng truyền đại chí hướng sâu xa. “Võng la trị thể”, bao hàm thu thập đều là những thứ trị quốc. “Sự phi nhất mục”, chính là cái được thu thập nhất định không chỉ là “nhất mục”, chính là không chỉ ở một góc độ nào hay một phương diện nào, không cục bộ mà là rộng khắp, thu thập từ nhiều phương diện.

“Nhược nãi khâm minh chi hậu, khuất dĩ dĩ cứu thời”, trong nội dung của việc thu thập này, ví dụ như nói là nếu như. “Khâm minh” chính là vị quân vương này, là một người vô cùng cung kính nghiêm túc, là một quân vương thánh minh. Ông trị quốc chính là “khuất dĩ dĩ cứu thời”, dành thiệt cho mình, lợi ích cho bá tánh. Đây là trong tự thuật, trong cả nội dung thu thập, đem những thứ “khuất dĩ cứu thời” thu thập những tấm gương này lại. Cũng thu thập “vô đạo chi quân”, là những quân vương không tuân thủ chánh đạo. “Lạc thân dĩ vong quốc”, tham muốn hưởng lạc, nô dịch bá tánh, sau cùng mất nước. Hoặc là: “Lâm nan nhi tri cụ, tại nguy nhi hoạch an”, những vị lãnh đạo này đến lúc lâm nguy rồi, có thể biết hoảng sợ, phản tỉnh chính mình để mà ứng phó lại, ngược lại có thể chuyển nguy thành an. “Hoặc đắc chí nhi kiêu cư”, sau khi có một số thành tích ngược lại biến thành kiêu ngạo. Sau cùng: “Nghiệp thành dĩ chí bại giả”, không giữ được công danh sự nghiệp, sau cùng thất bại mất nước. “Mạc bất bị kỳ đắc thất dĩ trước vi quân chi nan”, đều đem những ví dụ tốt đẹp này thu thập trở lại, những ví dụ về thành công và thất bại, xem rồi có thể được ấn chứng. Cho nên chân thật người làm vua cũng không dễ dàng.

Tiếp theo lại nói đến: “Kỳ ủy chất sách danh”. Chữ “ủy chất” này nghĩa là chỉ phụng hiến; vì vua, vì nước phụng hiến chính mình. “Lập công thụ huệ”, xây dựng sự nghiệp, thi ân cho bá tánh. Bởi vì là trung thần, trung thần cụ thể chính là lợi ích cho bá tánh. “Trinh tâm trực đạo”, vô cùng trung trinh chánh trực. “Vong khu tuẫn quốc”, vì quốc gia vì nhân dân, có thể sát thân thành nhân hy sinh vì nghĩa lớn. “Thân vẫn bách niên chi trung”, cái “bách niên chi trung” này chỉ chính là vào thời đại khi đó, khi ông đã chết đi rồi. “Thanh trì thiên tải chi ngoại”, nhưng mà tấm gương của ông, mỹ danh của ông đã truyền được qua mấy nghìn năm, đều vẫn đang được người ta ca tụng và noi theo. Cho nên có người chết đi mà nhẹ tựa lông hồng, có người nặng như thái sơn. “Hoặc đại gian thần hoạt”, những đại gian thần này; “chuyển nhật hồi thiên”, khi họ nắm quyền, quyền hành khuynh đảo vua và dân, cũng như là tráo trở lật lọng, đảo loạn hết cả triều cương. “Xã thử thành hồ” này chính là hình dung việc cậy thế ức hiếp người khác. “Xã thử” chính là loài chuột ở trong các chùa miếu, “thành hồ” chính là hồ ly ở trong miếu thành hoàng, là sự cậy quyền hiếp người này, muốn làm gì thì làm. “Phản bạch ngưỡng hắc”, chính là điên đảo thị phi, chánh tà. “Trung lương do kỳ phóng trục”, người trung lương thì bị họ hãm hại, bị lưu đày. “Bang quốc nhân dĩ nguy vong giả”, cả quốc gia đều bị nguy hiểm. “Hàm diệc thuật kỳ chung thủy, dĩ hiển vi thần bất dị”, đem những tình trạng về gian thần ghi chép trở lại, cũng thể hiện rõ làm một trung thần không phải dễ.

Mà ở đây cũng khiến chúng ta nghĩ lại trong “Xuất Sư Biểu” có nói: “Thân hiền thần, viễn tiểu nhân, thử tiên hán chi sở dĩ hưng long dã, thân tiểu nhân, viễn  hiền thần, thử hậu hán chi sở dĩ khuynh đồi dã”. Cho nên sự hưng suy của một quốc gia đều xem ở việc có dùng trung thần hay không, tránh xa tiểu nhân hay không.

“Kỳ lập đức lập ngôn, tác huấn thùy phạm, vi võng vi kỷ, kinh thiên vĩ địa, kim thanh ngọc chấn, đằng thực phi anh”. Đây đều là tán thán hiền quân, hiền thần, họ lập đức lập ngôn, làm gương cho hậu thế. Hành vi của họ, tư tưởng của họ đều trở thành kỷ cương cho hậu thế, thành tiêu chuẩn làm người. Cũng giống như Chu Công viết ra Chu Lễ, việc chế lễ tác nhạc ấy đã trở thành cương lĩnh xử lý chính sự quan trọng nhất trong nhiều thế hệ. “Kinh thiên vĩ địa” kỳ thực chính là việc trị lý cả triều chính của quốc gia. “Kim thanh ngọc chấn”, những mỹ danh, đức phong của họ, giống như lời vàng tiếng ngọc vậy. “Đằng thực phi anh” đây là chỉ công lao thành tích của họ đều được truyền dương trở đi. “Nhã luân huy du”, những ngôn luận mẫu mực chính trực của họ, bao hàm cả cách làm thiện mỹ của họ, và cả những mưu lược vì quốc gia của họ, những cái này đều là thuộc về “huy du”, đều có thể làm phép tắc cho đời sau. “Gia ngôn mỹ sự”, những ngôn luận thấu đáo, khí phách của họ có thể làm tấm gương cho hậu thế.

“Khả dĩ hoằng tưởng danh giáo, sùng thái bình chi cơ giả, cố diệc phiến thiện bất dị, tương dĩ phi hiển hoàng cực”, nghĩa là thu thập những khí phách lịch sử tốt đẹp này. Chữ “hoằng tưởng” chính là có thể giúp đỡ tất cả, “danh giáo” chính là tất cả sự phát dương quang đại của giáo dục Thánh Hiền. Vả lại: “Sùng thái bình chi cơ giả” nghĩa là những giáo huấn này có thể tăng cường sự an định cho cả xã hội quốc gia, cho dù có một câu chữ nào đó bị bỏ xót thì cũng đem chúng thu thập trở lại, như vậy thì mới thật sự hiện rõ được chuẩn mực pháp tắc mà Hoàng thượng thống trị thiên hạ. “Chí ư mẫu nghi tần tắc, ý hậu lương phi”, nghĩa là những mẫu hậu, hoàng hậu này, những tấm gương của hậu cung, thì cũng có sưu tập vào. Cho nên: “Tham huy du ư thập loạn”, những vị hoàng hậu, phi tử có đức độ này họ cũng là phò trợ cho Hoàng thượng trị lý tốt hậu cung. “Thập loạn” này chính là chỉ nhà Chu có mười người loạn thần, trong đó có một người là nữ, chính là chỉ Hoàng hậu. Có hai cách nói; một cách nói là chỉ người vợ của Văn Vương, còn cách nói khác thì chỉ người vợ của Vũ Vương. Đây đều thể hiện rõ sư quan trọng của bậc mẫu nghi thiên hạ. “Trước thâm giới ư từ liên”, trong số những tấm gương này có một người chính là phi tử của Hán Thành Đế, gọi là Ban Tiệp Dư.

Hoàng đế có một lần bảo bà ngồi lên xe kiệu của mình, Ban Tiệp Dư đã từ chối nói là: “Trong những bức họa lưu lại từ xưa tới nay chỉ nhìn thấy có quân vương ngồi cùng xe với các vị minh thần, trung thần, không có bức họa nào vẽ ngài cùng vợ ngồi trên xe kiệu cả”, thế là bà không nhận lời mời lên xe kiệu của Hoàng đế. Hán Thành Đế sau khi nghe xong thì rất vui, rất bội phục người phi tử này của mình.

“Hoặc khuynh thành triết phụ, vong quốc diệm thê, hậu thần kê dĩ tiên minh, đãi cử phong nhi hậu tiếu giả, thời hữu sở tồn, dĩ bị khuyến giới”. Đối với những hậu phi lộng quyền ở hậu cung, đã tạo ra nguy nan cho cả đất nước, sau đó tham gia chính sự nắm quyền. Còn đưa ra ví dụ, chính là vụ Bao Tự đốt lửa báo cho chư hầu, sau cùng mất nước. Những lịch sử này bao gồm những việc phát sinh vào lúc đó đều ghi chép lại để khuyên bảo cho hậu thế.

Viên tự lục Kinh, hất hồ chư tử”, chính là nội dung đã tuyển chọn ra từ trong lục Kinh lấy ra tất cả ghi chép của Chư Tử, lựa chọn ra phạm trù, chính là Kinh Sử Tử. Thời gian lựa chọn là: “Thượng thủy ngũ đế, hạ tận Tấn niên”. Nếu theo như vậy mà tính thì có lẽ cũng khoảng 3.000 năm lịch sử. “Phàm vi ngũ dật”, đem nó biên soạn thành năm quyển lớn. “Hợp ngũ thập quyển”, một quyển có khoảng chừng 10.000 chữ, cũng khoảng hơn 500.000 chữ. “Bổn cầu trị yếu”; “bổn cầu” này nghĩa là mục đích, chính là thâm nhập tìm tòi những yếu lĩnh của việc trị nước. “Cố dĩ trị yếu vi danh”, việc thu thập này đều là vì để nắm được cương yếu của việc trị quốc – bình thiên hạ, cho nên liền lấy “trị yếu vi danh”. Cho nên trong số quần thư đó đều là cương lĩnh quan trọng nhất của việc Tu – Tề – Trị – Bình, đem chúng hội tập trở lại.

Từ đoạn lời tựa này của Ngụy Thừa Tướng chúng ta có thể cảm nhận được những vị thánh nhân này, thậm chí là nhiều đời nhiều thế hệ của chúng ta đã rất là yêu thương đối với đời sau, đều mong muốn để lại ơn trạch cho đời sau. Từ trong gia đình mà nói, có cha mẹ nào mà lại không muốn đem những trí huệ và kinh nghiệm tốt đẹp để truyền lại cho con cháu đâu chứ. “Người cho con một nhà tiền, ta dạy con một bộ Kinh”. Đối với gia đình, đối với quốc gia dân tộc đều rất có sứ mệnh cảm, cho nên biên soạn bộ sách này lợi ích cho đương thời mà cũng để lợi ích cho hậu thế. Chúng tôi cũng hy vọng chúng ta thông qua việc cùng nhau học tập kế thừa cũng có thể khiến cho Thái Tông Hoàng đế, Ngụy Đại Nhân và những vị Thánh Nhân này đã có lòng để lại ơn trạch cho đời sau. Có thể thông qua sự hoằng dương của chúng ta mà được phát dương quang đại hơn nữa, để cho nền văn hóa truyền thống dân tộc được chấn hưng, để cho con cháu đời sau có thể thật sự trải qua được những ngày tháng hạnh phúc tốt đẹp. Cũng có thể thông qua những lời dạy này mà có thể lan rộng ra để khắp thế giới được an định, được hài hòa trong tương lai. Chúng ta tri phước tiếc phước, trân quý cái phước báo này để gây tạo cho gia tộc, cho quốc gia xã hội và cả tạo cho thế giới có được hạnh phúc và lợi ích lớn hơn nữa. Hôm nay chỉ xin giao lưu với mọi người đến đây. Xin cảm ơn mọi người!

HẾT TẬP 4 – Xin xem tiếp tập 5 – Quẩn Thư Trị Yếu 360