QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 GIẢNG GIẢI – TẬP 42

Chủ giảng: Thầy giáo, Tiến sĩ Thái Lễ Húc
Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ
Thuyết minh: Hạnh Quang
Download toàn bộ MP3



Quần thư trị yếu 360 – Tập 42

TU THÂN – TỀ GIA – TRỊ QUỐC – BÌNH THIÊN HẠ

Trong số các vị Thánh Hiền xưa, chúng ta vô cùng quen thuộc với vua Thuấn. Trong “Trung Dung”, Khổng Lão Phu Tử cũng ca ngợi vua Thuấn là người trí huệ rộng lớn. “Vua Thuấn thật là bậc đại trí. Vua Thuấn ưa hỏi, ưa xét những lời nói gần, che giấu điều xấu, biểu dương điều thiện, nắm hai đầu nối, lấy cái chính giữa mà áp dụng với dân, vì thế mới là vua Thuấn”. Chúng ta thấy, Khổng Lão Phu Tử ca ngợi vua Thuấn trí huệ rộng lớn. Tiếp nhận đoạn này, chúng ta chịu học thì chúng ta cũng có thể hồi phục được tánh đức giống như vua Thuấn vậy. “Hiếu vấn”, vì sao ca ngợi vua Thuấn là đại trí vậy? Bởi vì ông ham thích học hỏi. “Hiếu học cận hồ trí”, những điều không biết thì ông chịu đi thỉnh giáo.

Chúng ta tuy là học văn hóa truyền thống, có một số nhận thức về luân lý đạo đức, nhưng mà cũng không nên cho rằng hình như là hiểu biết được đạo lý, việc gì cũng có thể làm, điều này có phần ngạo mạn. Trong “Sư Thuyết” có nói: “Nghe đạo có trước sau, học thuật có chuyên công”. Những kỹ năng khác nhau, nghề nghiệp khác nhau, kiến thức trong đó cũng không giống nhau. Chúng ta xem, rất nhiều doanh nghiệp quy mô của nó rất lớn, nhưng mà vì sao quy mô lớn như vậy cuối cùng thì trong khoảng thời gian ngắn ngủi là bị thất bại hoàn toàn? Chính là do khởi lên sự ngạo mạn, cho rằng sự nghiệp này là do mình gây dựng nên, sự nghiệp gì ta cũng có thể làm tốt, sau đó thì họ sẽ vượt quá ngành nghề, trong phút chốc thì mất cảnh giác, toàn bộ tài sản đều thua lỗ hết.

Có một câu tục ngữ nói: “Khác nghề như cách núi”. Vì vậy, không hiểu được không cùng lĩnh vực, tự bản thân không biết phải “ham học hỏi”, sau đó nếu tiếp thu chưa thông suốt thì cũng phải xin được chỉ dạy. “Đệ Tử Quy” nói: “Tâm có nghi, thì chép lại. Học hỏi người, mong chính xác”. Thái độ này rất quan trọng. Một vị vua của một nước phải nên đi học hỏi nhiều để hiểu được những tình huống khách quan, thì ông mới có thể quyết định được những lựa chọn chính xác. Cho dù là quyết định sách lược hay là dùng người cũng đều là như vậy. Cho nên, “hiếu vấn” (ham học hỏi), rất quan trọng.

Chúng ta xem, Khổng Lão Phu Tử cũng là, “nhập Thái Miếu, mỗi sự vấn”. Những việc chưa hiểu đều chủ động tìm tòi học hỏi. “Hiếu sát nhi ngôn”. Chữ “sát” này là quan sát, kiểm điểm bản thân. “Nhi” là gần, rất gần chúng ta. Chúng ta nói nức tiếng gần xa, “hà” nghĩa là xa; “nhi” nghĩa là gần. “Nhi ngôn”, lời nói rất gần, nghĩa là người dân rất quen thuộc với ngạn ngữ. Bởi vì ngạn ngữ nó thật thà, chất phác, cũng rất giản dị, cho nên người dân thông thường nghe là hiểu. Thí dụ, hôm nay chúng tôi mở miệng nói chuyện cùng với một người dân thường, chúng tôi nói với anh ấy, “nhân bất tri nhi bất uấn, bất diệc quân tử hồ”. Chắc chắn là anh ấy nghĩ tôi nói cái gì nghe không hiểu, đúng không? Bởi vì có đọc Kinh điển thì anh ấy mới biết được những lời nói này. Nhưng mà các vị nói với anh ấy: “Ác hữu ác báo”, thì lập tức anh ấy tiếp lời của các vị, “thiện hữu thiện báo”, đúng không? Nhưng mà các vị nói với anh ấy: “Tác thiện giáng chi bách tường”, thì anh ấy không tiếp lời được. Cho nên, những người dân thông thường họ tương đối thuộc ngạn ngữ. Mà những người có địa vị, trong lúc họ dạy bảo người dân đều là quán căn cơ, phù hợp căn cơ. Điều này họ uyển chuyển, có thể đặt mình vào hoàn cảnh người khác, nói điều gì họ nghe không hiểu. Cho nên các vị  xem, hôm nay chúng ta đối mặt với đứa bé hai – ba tuổi, các vị nhất định phải dùng lời nói mà trẻ hai – ba tuổi có thể hiểu để nói với chúng. Đối với người kinh doanh thì các vị dùng ngôn ngữ của người kinh doanh để nói với họ, họ vừa nghe là hiểu. Đối với kỹ sư, các vị nói với họ x bình phương cộng với cái gì, họ nghe sẽ hiểu. Vì vậy nói chuyện cũng phải phù hợp đạo lý, cũng phải phù hợp căn cơ. Các vị không thể là một người có địa vị hát giọng cao, người dưới thấp nghe sẽ không hiểu, như vậy cũng không được. Vì vậy, “háo sát nhi ngôn”, nghĩa là đồng tình với ngôn ngữ mà người dân có thể hiểu được, dùng những ngôn ngữ này để dạy bảo. Giả như chúng ta rất quen thuộc: “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu”. Đây là giáo dục nhân quả, nó rõ ràng dễ hiểu, nhưng mà ý của nó sâu sắc đúng hay không? Có thể trồng dưa sẽ được dưa, trồng đậu sẽ được đậu. Nói sâu sắc một chút, mỗi một ý niệm đều là một hạt giống, sau này sẽ chiêu cảm quả báo đến. Cho nên những đạo lý như vậy người dân có thể tiếp nhận, vẫn có thể nói sâu hơn một chút để cho mọi người càng tiếp thu ý nghĩa sâu xa. Cho nên, “hiếu sát nhi ngôn”. Đây là những người có địa vị hiếu học, đồng thời hiểu được đạo lý của Thánh Hiền. Hơn nữa “hiếu vấn”, là khi hiểu được nhiều tình huống. Có những lúc nghe được sự việc, họ nói ra không được công bằng chánh trực, thậm chí có những lúc còn phê bình người khác, vì vậy phải ẩn ác. Những điều không tốt không nên nói toạc ra, không nên nói. Họ có nói những điều đúng thì tán thành họ, phải dương thiện. Hoặc ở trong triều đình, những hành vi nào làm đặc biệt xuất sắc thì nên biểu dương, hình thành nếp sống tốt.

Các vị xem Đường Thái Tông, trước bề tôi mà tiếp nhận lời khuyên can hay vô cùng, lập tức thưởng 200 xấp vải lụa. Phần thưởng đó chính là muốn tạo nên một nếp sống tốt. Trong “Đệ Tử Quy” nói với chúng ta: “Thấy người tốt, nên sửa mình”, “khen người thiện, tức là thiện. Người biết được, càng tốt hơn”. Cho nên, phải dương thiện. Các vị  xem, “Đệ Tử Quy” có phải là sách quý để trị nước hay không? Tại sao chúng ta không phối hợp một chút. Đạo lý trị gia và trị quốc đều giống nhau. Chúng ta nói mỗi một đoạn đều có dẫn chứng trong “Đệ Tử Quy” ra hay không? Có. Các vị không nên xem thường áp dụng cụ thể những lời giáo huấn trong “Tứ Thư” cũng không thể rời bỏ “Đệ Tử Quy”, những nguyên tắc, nguyên lý xử sự trong cuộc sống này. Việc ẩn ác dương thiện quan trọng vô cùng. Bởi vì nếu dương ác, thì những điều mà mọi người học được đều là ác, vậy thì sẽ sinh ra thói xấu, tác dụng phụ. Hiện nay những người làm việc trong giới truyền thông thì không hiểu, họ không có trí huệ, cho rằng bất cứ việc gì cũng phải do họ đưa tin ra, hơn nữa là phải đưa tin rất chi tiết. Một số tờ báo làm điều phi pháp, chi tiết như vậy chẳng khác nào khiến người ta học theo toàn bộ những ý niệm xấu ác sao? Vì vậy, người thân của chúng ta giả như có dạy học ở học viện truyền thông, thì nên đem câu nói này của Đại Thuấn giới thiệu cho họ, nên nắm vững nguyên lý nguyên tắc ẩn ác dương thiện. Nếu không, các vị xem hiện nay những tin tức của giới truyền thông đều dạy cho thế hệ sau này hư hỏng. Hơn nữa, họ không biết một sự thật gọi là, “học điều hay một năm cũng chưa đủ, học điều xấu một ngày cũng là dư”. Học một lần chúng liền biết thì phiền phức. Trừ khi nền tảng đức hạnh của chúng thật vững chắc, hệ thống miễn dịch rất mạnh, sẽ không bị sự ô nhiễm như vậy thì còn được, nếu không thì thông thường sẽ bị ảnh hưởng của những thứ ô nhiễm. Hơn nữa, sau khi nghe những lời nói này thì phần lớn đã quá trớn, hoặc là đã lỡ rồi, trừ phi họ đã đạt được cảnh giới của “Trung Dung”. Không phải như vậy lời nói thông thường đều là sơ suất, nếu không thì cũng đã lỡ rồi. Thật sự, việc sơ suất hay việc đã lỡ rồi, thường trong cuộc sống của chúng ta sẽ phạm phải.

Ví dụ như chúng ta quản lý con cái rất nghiêm ngặt, nghiêm đến nỗi chẳng còn tình thân, cuối cùng con cái phản kháng lại, sau đó thì chúng ta cũng nói, “được rồi, từ nay về sau cứ mặc kệ chúng bây!. Có tình huống như vậy hay không? Lời nói như vậy, chính là chúng ta từ lỗi lầm một chút trở thành chuyện thái quá. Có những lúc từ chuyện đã lỡ thoáng một cái thì trở thành chuyện thái quá. Các vị xem, có một số người rất tiết kiệm, tiết kiệm đến cuối cùng có thể những người ở xung quanh luôn luôn châm dầu vào lửa, “anh sao mà khổ vậy, kiếm tiền thì phải tiêu tiền chứ”. Nghe, nghe, rất là tiết kiệm nhưng trong chốc lát, “được rồi, tôi sẽ tiêu tiền cho thỏa thích”, trong chốc lát trở thành chuyện hoang phí quá. Vì vậy phải đi theo trung đạo, là phải luôn luôn bình tĩnh để quán chiếu chính mình, kiểm điểm bản thân mình có thể thực hiện được. Chữ “chấp”, nghĩa là nắm bắt; “lưỡng đoan”, nghĩa là hai đầu. Hai đầu nghĩa là lỗi lầm và thái quá. Xem xét tình huống khách quan của sự vật nhằm tránh được lỗi làm và lỡ lầm. “Dụng kỳ trung”, nghĩa là dùng thích hợp phương pháp điều hòa để quyết định chính sách, để lợi cho người dân. Cho nên điều này rất quan trọng, được gọi là, “chấp lưỡng dụng trung”. Giả như các vị làm lãnh đạo, một số ý kiến của cấp dưới thường hay lỡ thiên lệch, cũng sẽ thiên lệch thái quá, lúc đó các vị nên bình tĩnh sẽ biết áp dụng phương pháp điều hòa. Mà ngay lập tức, thật sự cũng là đang điều chỉnh tất cả trạng thái tâm lý lỗi lầm và thái quá của thuộc hạ. Mở cuộc họp chính là đang giáo dục hết thảy đồng nghiệp. Vì vậy, những người thật sự có trí huệ tùy lúc tùy nơi đều đang gợi ý cho người khác. Đương nhiên phải có trí huệ như vậy thì tốt vô cùng. Các vị có thể tùy thời cảm thấy được chỗ lỗi lầm và thái quá của trạng thái tâm lý của mỗi một người, các vị có thể luôn luôn theo dõi sự thiên lệch của họ, để điều chỉnh họ trở lại. “Dụng kỳ trung ư dân, kỳ tư dĩ vi thuấn hồ”, sở dĩ họ có thể trở thành thánh vương. Chữ “tư”, chính là chỉ những đức hạnh ở trước mặt của họ. Mà bản thân của từ “Thuấn”, nghĩa là chỉ “thông”, chính là trí huệ – đức hạnh của họ rất viên mãn, mới dành cho họ cái danh hiệu “Thuấn” này. “Kỳ tư dĩ vi thuấn hồ”, cho nên “hiếu vấn”. Hơn nữa có thể, chấp kỳ lưỡng đoan, dụng kỳ trung ư dân. Họ sẽ không bị thiên lệch.

Từ câu chuyện của Trâu Kỵ, từ tấm gương của vua Thuấn, chúng ta xem lại Thái Tông, cũng là nhận được sự gợi ý của những lời giáo huấn này. Trong quá trình trị vì đất nước của ông, vào năm Trinh Quán thứ hai thì ông có hỏi Ngụy Trưng, “sao là minh quân, sao là ám quân?”. Thừa tướng Ngụy Trưng trả lời: “Chịu tiếp thu ý kiến mọi người là minh quân, chỉ tin một cách thiên vị là ám quân”. Hơn nữa, trong lúc Thừa tướng Ngụy Trưng nói câu này, còn lấy trong “Thư Kinh”. Người thông minh trí tuệ có nói đến quốc gia có một số quyết định chính sách, có những lúc không được đúng đắn, có thể trưng cầu nhiều ý kiến của những người ở miền quê, tiếp nhận nhiều ý kiến rộng rãi. Ngụy thừa tướng liền nhắc đến vua Nghiêu và vua Thuấn đương thời trị vì thiên hạ, rộng đường ngôn luận, rộng tuyển hiền tài để những điều đã nghe, đã nhìn thấy được của họ có thể là toàn bộ, không phải là thiên lệch. Rất nhiều vị quan không tốt ở xung quanh như là: Cộng Công, Cổn; Cổn là cha của Đại Vũ, những vị quan này không thể giấu được nhà vua. Lời sàm tấu của nịnh thần cũng không thể mê hoặc được nhà vua. Tiếp theo là nhắc đời thứ hai của nhà Tần chính là Hồ Hợi. Bởi vì chính mình ẩn náu ở nơi thâm cung, sau đó thì không thân thiết với các đại thần, chỉ tin có một mình triệu Cao (là vị quan thái giám), chỉ nghe lời ông ta, sau này thiên hạ đại loạn nhà vua cũng không biết. Cuối cùng thì Hồ Hợi, đời thứ hai của nhà Tần bị Triệu Cao hại chết sự tin tưởng, thiên vị này. Mọi người đều biết Lương Vũ Đế tin Phật, nhưng tin Phật thì trong tâm cũng phải hạ công phu, đồng thời cũng cần đem những đạo lý này dùng trong việc trị vì quốc gia. Giả như các vị không dùng những lời giáo huấn trong việc trị quốc, thì quốc gia sẽ loạn. Cho nên nhắc đến Lương Vũ Đế, lúc đó vẫn tin chỉ có một vị quan là Chu Dị. Bởi vì tin chỉ có mình ông ấy, nên không biết được tình hình của quốc gia, sau đó thì Hầu Cảnh nổi loạn, đã đem binh lính đến trước cổng của hoàng cung. Nhà vua vẫn không hay biết, vẫn không biết được sự tình, sau đó thì bị bao vây đến chết. Đã nêu lên những trường hợp như vậy trong lịch sử, sau đó thì nhắc đến một triều đại trước đây. Tùy Dạng Đế chỉ tin có Ngu Thế Cơ, chỉ tin có vị quan này, tất cả khắp nơi bại hoại, đoạt thành cướp đất, nhưng Tùy Dạng Đế không hay biết. Cho nên nhà vua mà chịu lắng nghe ý kiến, tiếp nhận ý kiến của cấp dưới, thì sẽ không tạo nên việc các vị quan được ưu ái, che giấu những ý kiến của nhà vua. Mà việc chịu tiếp nhận ý kiến, thì ý nguyện của cấp dưới mới có thể phản ánh được lên cấp trên. Thái Tông nghe xong cũng rất tán thành Thừa tướng Ngụy Trưng, nói rất hợp lý!”.

Chúng ta tiếp tục xem câu 47, ở quyển thứ tư, trang 569, đếm ngược lên hàng thứ 3. Chúng ta cùng nhau đọc một lần.

“Thần nghe nói quân vương không ai mà không thích bề tôi trung thành chánh trực, ghét kẻ a dua nịnh nọt, nhưng những tai họa trong lịch sử là do những người trung thành chánh trực bị mắc tội, những kẻ a dua nịnh nọt được ưu ái. Đây thực sự là nghe lời người  trung chánh thì khó, chiều theo lời a dua thì dễ”.

Chúng ta xem, phần mở đầu có nói đến vị quan này. Ông nghe nói “nhà vua” (những vị vua này), không ai mà không thích bề tôi trung thành chánh trực, không có ai mà không ghét bề tôi a dua nịnh hót. Nói lời gièm pha, có lẽ mỗi một vị vua nghe được đạo lý này ông sẽ tiếp nhận. Nhưng mà vì sao trong các triều đại, “lịch thế chi hoạn”, tai họa ở các triều đại, những tai nạn của quốc gia. “Mạc bất dĩ trung chính đắc tội”, là do trung thần chánh trực chiêu cảm tai họa đến. Bởi vì hoàng đế không nghe lời, gian thần ở xung quanh hãm hại liền bị giáng chức, thậm chí còn nguy hiểm đến tính mạng. Mà một số vị được tin tưởng quá đáng, luôn luôn a dua nịnh hót thì lại được tín nhiệm. Vì vậy nhà vua đều thích trung trực, đều ghét nịnh hót, nhưng mà thật sự gặp cảnh giới đưa đến thì vẫn phạm phải những lỗi lầm như vậy, làm cho người trung chánh phạm tội, làm cho những người nịnh hót được tin tưởng quá đáng. “Cái thính trung nan”. Điều này đại khái biểu hiện một đạo lý, đó là tin lời nói chân thật thì rất khó, nghe theo tin theo những lời a dua thì rất dễ.

Đoạn này chúng ta đọc qua, thật sự chúng ta cũng thường nghe được những lời giáo huấn như vậy, gọi là “thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng”. Thuốc rất đắng, thì có uống không? Không cần phải uống, thật sự muốn sống thì phải uống, đúng hay không? Các vị xem, chúng ta nói yêu quý cái thân thể này, rất nhiều người vẫn nói đùa, ăn đến chết vì no, chưa đến mức độ no mà chưa chết thì họ lấy làm tiếc. Các vị xem, khi dục vọng của con người quá mạnh, họ vốn là không có lý trí. Câu đó vừa dịch ra từ tiếng Đài Loan, là câu nói của người Phúc Kiến, “thà ăn no rồi chết, còn hơn chết rồi không có mà ăn”. Đây là lời nói của những người có dục vọng rất cao. Họ nói: Tôi ăn mà có chết thì tôi cũng cam lòng. Nói thẳng ra, những người như vậy đều không tiết chế được chuyện ăn uống, ăn cho đến lúc bị điều gì? Ăn đến nỗi trúng gió, ăn đến nỗi tai biến mạch máu não. Muốn chết mà không chết được, như vậy thì quá phiền phức. Các vị xem, con người nếu không buông bỏ dục vọng thì thật sự rất khó tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân mình, thật sự rất khó tiếp nhận những lời khuyên chân thật. Thật sự, chính là những người giả như sĩ diện, thích nghe lời nói ngon ngọt, ở bên cạnh có những quý nhân cũng vô dụng, vì sao vậy? Người ta hiểu được tính cách của các vị, sợ kết oán thù với các vị nên bỏ đi. Cho nên phải, “nghe lỗi vui”, người hiền lương mới có thể dần gần gũi. Đây là sự cảm ứng. Mỗi một nhân duyên của đời người đều phải do chính mình chiêu cảm đến. Thật sự vui vẻ khi nghe những lời chân thật, vậy thì Ngụy Trưng sẽ xuất hiện trong mạng sống của các vị, đúng không? Khi các vị nghe những lời nịnh hót thì các vị sẽ vô cùng bình tĩnh, đối diện với những duyên ác các vị có thể tránh xa, như vậy sẽ biết giữ đức hạnh của bản thân mình, có thể không bị những tư tưởng, quan niệm sai lầm dẫn dắt.

Trong thời kỳ Trinh Quán, Thái Tông vô cùng chủ động thỉnh cầu lời khuyên chân thật. Nghe lời khuyên chân thật cũng không phải dễ. Thái Tông vẫn chủ động hướng dẫn các đại thần khuyên can. Thưa các vị, các vị ở nhà trị vì gia đình, có hôm nào các vị đi tìm người bạn đời của mình, “mời anh ngồi, uống ly trà đi. Trong tuần này em có chỗ nào không được ổn, xin anh đừng khách sáo, hãy nói ra giúp em?. Có cảnh tượng gia đình như vậy chưa? Các vị vừa làm như vậy, ông xã của các vị nâng ly trà lên, “không biết sắp xảy ra chuyện gì đây, hôm nay sao mà mặt trời mọc ở hướng tây vậy?. Người trong cuộc thì quáng, người ngoài cuộc thì sáng. Thật sự, những người gần gũi nhất họ hiểu chúng ta mỗi ngày phát sinh ra chuyện gì, các vị có thể khiêm tốn tiếp nhận. Người bạn đời ở bên cạnh các vị là quý nhân của các vị, điều quan trọng nhất là các vị phải khiêm tốn, các vị phải nhún nhường mới được. Chúng ta đã nghe lời giáo huấn của Thái Tông nhiều như vậy, Thái Tông đã thể hiện được khí phách, chủ động để mọi người khuyên ông, nhưng mà cũng không phải luôn luôn duy trì, đúng không? Đương nhiên không thể nói, lúc tâm trạng vui mới chịu nghe lời khuyên, tâm trạng không vui thì không nghe, vậy thì lúc đó cũng phải đối trị cảm xúc của mình cho ổn định, không thể lúc vầy lúc khác.

Đúng lúc vào năm Trinh Quán thứ tám, có một vị quan ở huyện Thiểm tên là Hoàng Phủ Đức Tham dâng thư cho Thái Tông những chỗ thực hiện không được thỏa đáng trong khoảng thời gian đó. Rốt cuộc Thái Tông trong lúc đang xem bản tấu trình này, càng xem thì càng bốc hỏa, cho rằng tại sao ông ấy lại phê bình quyết liệt như vậy, có phải là đang hủy báng ta hay không? Tình huống này Thừa tướng Ngụy Trưng biết được, liền khuyên can Hoàng đế Thái Tông. Ông nói: “Đại thần Giả Nghị của triều nhà Hán lúc đó viết bản tấu chương dâng cho Hán Văn Đế, trong đó có nhắc đến một sự việc có thể khóc lóc, sáu sự việc có thể than vãn lâu dài. Bản tấu chương này chính là đang tự thuật việc làm quan rất khó. Đại thần càng trung thành, càng nói lời chân thật sẽ bị hãm hại hoặc là sẽ bị cách chức. Điều này đều có trong lịch sử. Sự việc này làm cho người ta vô cùng thương hại, ai thán. Trong lúc Ngụy thừa tướng đang nói đạo lý, cũng có thể kể ra những câu chuyện trong lịch sử, hoàng đế không thể không khâm phục. Vì vậy, thông qua bản tấu chương của Giả Nghị có nói đến, “từ xưa đến giờ, bề tôi dâng thư nói lời chân thật, ngôn ngữ đa phần là tương đối khó nghe, nghĩa là tương đối mạnh mẽ, tương đối khẩn thiết, tương đối khảng khái, hiên ngang. Tại sao phải khảng khái, hiên ngang như vậy, thẳng thắn như vậy? Bởi vì nếu không thẳng thắn như vậy, thì không thể làm cho hoàng đế chú trọng. Mà lời nói quá quyết liệt, quá khẩn thiết, thì rất dễ làm cho hoàng đế hiểu nhầm thành hủy báng, có ý kiến với nhà vua. Cho nên hoàng thượng, ngài phải tỉ mỉ mà phân biệt, thì ngài mới biết những lời khuyên này là vì quốc gia, vì muốn ngài được tốt”. Ngụy thừa tướng vừa nhắc nhở, cảm xúc của Thái Tông bình lặng lại. Rốt cuộc Thái Tông nói với Ngụy thừa tướng: “Giả như không phải là khanh, thì không thể nói đạo lý này thấu triệt như vậy”. Bởi vì Ngụy thừa tướng biết cách khuyên nhất. Mọi người xem, Hoàng đế Thái Tông trả lời như vậy, lời nói này lại được truyền đi, trong tâm của các vị quan trung thành chánh trực đều vui mừng thanh thản. Các vị xem, hoàng thượng có thể tiếp nhận lời nói của Ngụy thừa tướng như vậy, cũng chính là nói sau này khi đối diện với những bản tấu trình của các vị trung thần, nhất định sẽ không hiểu lầm là họ đang hủy báng trẫm. Cho nên ngay lập tức còn ban thưởng cho vị quan Hoàng Phủ Đức Tham hai mươi khúc lụa. Phần thưởng cũng là chấp nhận sự trung thành của vị quan này, dấy động lên phong trào can gián. Đây là câu chuyện của năm Trinh Quán thứ tám.

Hơn nữa, tiếp nhận lời khuyên can thì bản thân Thái Tông nỗ lực để thực hiện được, cũng mong muốn con của ông, chính là thái tử cũng có thể có thái độ tiếp nhận lời khuyên của các vị quan. Vì vậy, năm Trinh Quán thứ bảy, đúng lúc Thái tử Thừa Càn gây nên mấy việc thiếu lễ độ, tình hình xa xỉ, phóng túng tương đối nghiêm trọng, lúc đó vị quan tả thứ tử của thái tử là Du Chí Ninh (chính là một chức quan rất quan trọng ở đông cung, là quan tả thứ tử của thái tử), Du Chí Ninh liền viết hai mươi quyển “Giáng Uyển” để khuyên can thái tử. Ngoài vị quan hữu thứ tử của thái tử cụ Khổng Dĩnh Đạt là nhà nho thông thái của triều nhà Đường, đối với Ngũ Kinh sự giải thích có bước tiến bộ, vì vậy chúng ta nghiên cứu văn hóa truyền thống, có thể thâm nhập vào phần giải thích của cụ Khổng Dĩnh Đạt (Khổng Dĩnh Đạt là quan hữu thứ tử), thường xuyên ở trước mặt trực tiếp chỉ ra những sai lầm của thái tử. Rốt cuộc là nhũ mẫu của thái tử nói với cụ Khổng Vĩnh Đạt: “Thái tử vừa mới trưởng thành, cớ gì mà ông thường ở trước mặt của thái tử nói ra những lỗi lầm như vậy?”. Nhũ mẫu lòng dạ có chút mềm yếu, cảm thấy như vậy hình như là không nể mặt thái tử, làm cho thái tử khó chịu đựng. Rốt cuộc cụ Khổng Vĩnh Đạt nói: Thái tử nhận được sự tín nhiệm, ơn sâu của quốc gia, cho dù khuyên can mà có dẫn đến tai họa mất thân thì ông cũng không tiếc. Đương nhiên lúc nhũ mẫu nói, “không nên làm dữ vói thái tử như vậy, thực tế giả như không nghiêm khắc yêu cầu thái tử, trước tiên thì không thể thành tựu được đức hạnh cho thái tử, hơn nữa thái tử không có đức hạnh tốt thì sau này làm hoàng đế, người chịu tai họa là người dân. Cho nên, vị quan hữu thứ tử của thái tử là cụ Khổng Dĩnh Đạt là từ bi thật sự. Dùng tình cảm từ bi mà biết được nhiều tai họa, nên gọi là “con hư tại mẹ”. Tại sao con hư là tại từ mẫu? Chữ “từ” này, là không có trí huệ, đều là cảm tính không có lý trí, ngược lại sự yêu thương này trở thành sự cưng chiều, trở thành sự yêu chiều. Nhưng mà có gặp phải ông chồng đang dạy dỗ đứa con, các cô ở bên cạnh lắng nghe, “được rồi, được rồi, đừng nói nữa, đừng mắng nữa mà!. Có làm như vậy chưa? Có. Lúc này phải bình tĩnh. Việc dạy dỗ của ông chồng là một cơ duyên rất tốt để cho đứa con có thể hiểu được sai lầm ở chỗ nào. Nếu như chúng ta ngăn cản, sau này đứa trẻ cảm thấy việc phạm lỗi chỉ cần đứng sau lưng của người mẹ là không có chuyện gì, như vậy sẽ làm cho đứa trẻ không nhìn ra lỗi lầm của mình, mà còn dùng sự khôn ngoan vào những chỗ không đúng. Đương nhiên có những lúc người cha đang dạy dỗ đứa con khó tránh khỏi những lúc quá kích động, đó cũng là chuyện thường tình của con người. Lúc đó các vị không chỉ không ngăn cản mà còn ngấm ngầm nói với đứa con, “con xem, cha của con tha thiết như vậy đấy, thương yêu con như vậy mới nhắc nhở con những lỗi lầm này. Con nên nhớ, đối với cả cuộc đời này của con có lợi ích rất lớn”. Có lẽ là người mẹ kết thúc như vậy.

Tôi còn ấn tượng khi tôi phạm lỗi lớn. Khi cha tôi đang dạy bảo tôi, lúc đó cũng có mẹ tôi ở đó. Mẹ tôi ở bên cạnh lắng nghe, từ đầu đến cuối không nói một lời, không chỉ không nói chuyện mà còn cúi đầu xuống. Sau này tôi mới biết tại sao mẹ tôi cúi đầu xuống, bởi vì mẹ tôi sợ nhìn thấy gương mặt đang khẩn khoản van nài của tôi bà sẽ mềm lòng. Vì vậy, mẹ tôi biết rất rõ bà sợ sẽ chịu không nỗi, nhìn thấy tôi bà sẽ mềm lòng, cho nên bà phải cúi đầu xuống. Tôi thấy mẹ tôi chẳng nhìn tôi, tôi đành phải nhìn cha của tôi. Mà thật sự chỉ tiếc là, rèn sắt không thành được thép. Trong việc dạy bảo của cha tôi, tôi ấn tượng sâu sắc nhất chính là nhắc nhở tôi phải biết tự trọng, không nên làm nhục bản thân mình. Sau này khi tôi đã tương đối lớn, nhắc đến câu chuyện này mẹ tôi nói, “cha của con lúc đó (con mới có sáu – bảy tuổi, mới mấy tuổi thôi), nói với con những lời đó con có hiểu không?”. Tôi nói với mẹ: “Con hiểu mà, sao mà không hiểu chứ!. Vì vậy, trên con đường của đời người thường xuyên nghĩ đến nhất, chính là câu nói đó của cha, “phải tự trọng”. Tất cả những lời dạy bảo của cha đều là chỉ dẫn chúng ta không nên làm nhục chính mình, nên tự trọng, tự kính, không phải là trút hết cảm xúc.

Tôi nghe có một số lần, cha mẹ vừa bắt đầu rầy la, “con làm mất mặt của cha nhiều rồi, con đem cái mặt của ba giấu ở chỗ nào đi!. Thật sự là đang thổ lộ cảm xúc. Con cái cảm nhận chưa được sự thương yêu che chở đó, chỉ là phản ánh cảm xúc của chúng ta.

Cụ Khổng Dĩnh Đạt thật sự là trung thần, cho rằng đó là trách nhiệm bổn phận, cho dù có bị tai họa cũng không từ chối. Cho nên, lời khuyên can của ông càng tích cực, đến cả việc thái tử truyền lệnh cho cụ viết quyển “Hiếu Kinh Nghĩa Sớ”. Rốt cuộc khi cụ Khổng Dĩnh Đạt viết quyển sách này đã nắm lấy cơ hội diễn đạt những nghĩa lý trong “Hiếu Kinh”, đem những điều cần khuyên can thái tử hết thảy đều dung nạp vào bên trong sách đó, giúp cho thái tử ghi ấn tượng sâu sắc hơn. Cụ nắm bắt từng cơ duyên một để thành tựu đức hạnh cho thái tử. Rốt cuộc Hoàng đế Thái Tông đối với tả thứ tử và hữu thứ tử, họ dạy cứ như vậy mà dạy dỗ thái tử, vô cùng an tâm, vô cùng thích thú. Sau đó thì ban thưởng cho họ 500 khúc vải lụa, một cân vàng. Hơn nữa, phần thưởng này ngoài việc thưởng cho hai vị đại thần trung thành khuyên can ra, càng quan trọng hơn là để giáo dục ai? Giáo dục con của vua, giáo dục thái tử, phải quý trọng lời khuyên của những vị đại thần là thầy giáo này. Đây là vào thời nhà Đường.

Chúng ta đã xem cụ thể rồi, tấm gương vô cùng vui vẻ tiếp nhận lời khuyên. Trong lời khuyên giữa vua và tôi thời Xuân Thu có Yến Tử, rất nổi tiếng. Ông đã hầu cận qua mấy vị vua, hầu cận lâu nhất là Tề Cảnh Công. Có một hôm, đúng lúc Cảnh Công đi ra ngoài dạo chơi ở chỗ Công Phụ, ông liền than oán, “con người giả như không chết thì tốt biết mấy?”. Yến Tử liền nói với Tề Cảnh Công: “Con người giả như không chết, vậy thì hiện tại nên làm vua của nước Tề là Khương Thái Công, sau đó đại thần của ông là Tề Hoàn Công. Ông thì chỉ có vào trông ruộng đồng gánh vác việc trồng trọt, đâu có sợ chết. Bởi vì con người sợ chết phải để cho tinh thần trường tồn. Việc này tương đối quan trọng. Tề Cảnh Công cảm thấy trong lòng có chút phiền muộn, muốn tìm người để được an ủi, ngược lại bị Yến Tử phê bình cho một trận. Vua không được vui. Một lúc sau, một vị quan khác là Lương Khưu Cứ điều khiển sáu chú ngựa đến bên cạnh Cảnh Công. Xe ngựa chạy rất nhanh, vừa dừng lại Yến Tử lập tức nói, “Lương Khưu Cứ đến rồi!. Cảnh Công rất hiếu kỳ: “Sao mà khanh biết được?. Yến Tử trả lời: “Trời nóng như thế này mà ngựa chạy nhanh như vậy, nặng thì sẽ chết, nhẹ thì sẽ bị thương. Đánh ngựa chạy như vậy thì chỉ có ông ấy chứ còn ai vào đây!. Rốt cuộc Cảnh Công nói: “Là Lương Khưu Cứ đến rồi, ông ấy rất hợp với trẫm!. Yến Tử nói: “Ông ấy không phải là hợp với bệ hạ, ông ấy rất giống với bệ hạ. Rất hợp là bệ hạ có lỗi lầm thì ông ấy sẽ khuyên bệ hạ, như vậy mới gọi là hợp; bệ hạ có lỗi lầm, ông ấy cũng theo bệ hạ làm chuyện xấu, đó gọi là không giống, không phải gọi là hợp”. Cảnh Công vừa nghe xong lại không được vui, cái miệng méo xệch. Buổi tối hôm đó, vừa nhìn thấy có sao chổi (thông thường có sao chổi là điềm báo không hay), Cảnh Công lập tức sắp xếp người, “người hãy mau đi cầu thần linh bảo hộ, cầu nguyện cho sao chổi đó nhanh chóng mất đi”.  Yến Tử nói: “Sao chổi đó là do ông trời muốn nhắc nhở quân vương đã làm những chuyện không tốt. Cho nên thưa quốc vương, giả như ngài từ bỏ những thú vui chơi, từ bỏ những tên nịnh thần, tiến cử trung thần, chịu nghe lời chân thật, lo cho dân chúng, thì sao chổi đó tự nhiên không còn nữa, không cần đi cầu nguyện thì nó cũng không còn nữa. Giả như hiện giờ bệ hạ chỉ dựa vào việc cầu nguyện để sao chổi đó mất đi, tập quán xấu không chịu sửa, thì sao bột còn nguy hiểm hơn sao chổi sẽ xuất hiện”. Sao Bột, đó chính là đại họa sẽ lập tức ập lên đầu. Cảnh Công vừa nghe xong lại càng tức giận hơn, một ngày bị mắng ba lần. Sau này Yến Tử qua đời, có một hôm Cảnh Công khóc lớn, “nhớ Công Phụ lúc xưa, Yến Tử một ngày khuyên ta ba lần, bây giờ tìm một người khuyên ta một lần cũng tìm không ra”. Con người đều là sau khi mất đi mới biết quý trọng. Vì vậy, nghe lời chân thật thì khó, nghe lời nịnh hót thì dễ”. Chúng ta thật sự sửa đổi từ trong nội tâm, không nên sĩ diện, không nên ưa thích lời nói ngon ngọt, luôn luôn cẩn trọng bảo vệ đức hạnh của mình và bảo vệ quyền lợi của tập thể, thì mới có thể tiếp nhận được lời khuyên chân thật. Câu này chúng tôi chia sẻ trước với mọi người đến đây! Xin cám ơn mọi người!

HẾT TẬP 42 – Xin xem tiếp tập 43 – Quần Thư Trị Yếu 360