QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 GIẢNG GIẢI – TẬP 52

Chủ giảng: Thầy giáo, Tiến sĩ Thái Lễ Húc
Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ
Thuyết minh: Hạnh Quang
Download toàn bộ MP3



Quần thư trị yếu 360 – Tập 52

TU THÂN – TỀ GIA – TRỊ QUỐC – BÌNH THIÊN HẠ

“Không bỏ bê sự học”. Mỗi ngày có thời gian rảnh thì tay không rời sách. Kỳ thực, con người nếu không nghe Kinh, không đọc Kinh, thì có thể khởi các vọng tưởng điên đảo, liền thụt lùi. Người thật sự hiểu rõ thì không dám giải đãi một phút giây nào, ngay cả trước khi đi ngủ cũng không dám giải đãi, chánh niệm phân minh. Tốt nhất là trong giấc mộng cũng chánh niệm phân minh, như vậy mới có công phu. Để xem công phu của chúng ta có tốt hay không, thì hãy xem trong tuần này đã nằm mộng về những gì. Nếu như không có nằm mộng, vậy thì xin chúc mừng các bạn, trong lòng không vướng bận. Bởi vì ngày ngày nghĩ điều gì, thì đêm mơ thấy điều đó, việc này có liên quan đến những thứ chúng ta lo lắng nhiều vào ban ngày.

Tôi từng nhìn thấy một người đọc sách, hành trì của vị ấy cũng xác xác – thực thực làm nên những sự việc đặc biệt phi phàm, là Tiên sinh Dương Chứ. Ông vô cùng nhân từ. Tại địa phương, sự hành trì của ông nhận được sự tôn kính đặc biệt. Sự nhân từ của ông thể hiện ở chỗ nào? Hàng xóm của ông sanh được một đứa con, con nít thì sợ hù dọa, ông đã đem bán con lừa của mình. Từ ngày đó trở đi, đều đi bộ đến triều đình để làm việc. Ây da, yêu quý trẻ em đến mức độ như vậy. Chúng ta nên học tập sự tu dưỡng này, luôn luôn có thể cảm nhận được cảm xúc của người khác.

Bản thân thi đại học rất tốt, “nào, đốt pháo thôi, đốt pháo đi”. “Đùng, đùng, đùng như vậy, con nít đột nhiên nghe thấy thì oa oa khóc lên, vì sao vậy? Đứa trẻ kế bên mới được hai tháng tuổi mà chúng ta lại đốt pháp như vậy, khiến nó sợ chết khiếp. Các vị xem, người ta khi vui sướng thì không nhìn thấy hoàn cảnh của người khác. Cho nên con người cần tu dưỡng đến mức không được quá vui, không được quá giận, cần phải tương đối cân bằng thì mới là công phu. “Học vấn cao, thì tâm tánh bình lặng”.

Sau đó, Dương Chứ cất một ngôi nhà tương đối thấp. Kết quả nhà hàng xóm kế bên thì rất cao, nên chái nhà của họ cất bên trên nóc nhà của ông. Khi trời mưa thì nước mưa đều chảy xuống nóc nhà của gia đình ông. Người trong nhà liền nói: “Sao họ quá đáng như vậy, sao lại đem nước đổ xuống nóc nhà chúng ta kia chứ?”. Dương Chứ cười nói: “Mùa mưa ngắn, mùa nắng dài”. Sự độ lượng của ông thật là lớn. Người ta xây nhà, xây ngay trên phạm vi khu vực nhà ông, ông nói, lấn qua một tí cũng không hề gì, lấn qua một tí cũng không sao, dù sao cũng là đất của hoàng thượng mà. Đất trong thiên hạ, chỗ nào mà không phải của vua”. Rất là ý nghĩa!. Sự hành trì của người xưa, đời đời đều có gương sáng cả.

Giống như chúng ta đến Đồng Thành, nghe câu chuyện về cái hẻm sáu thước vậy. “Thư nhà ngàn dặm gửi đến chỉ vì chuyện cái tường, nhường người ba thước có đáng chi. Vạn lý trường thành vẫn còn đây, mà Tần Thủy Hoàng năm xưa đâu chả thấy”. Thư nhà từ ngàn dặm đã nhanh chóng gửi đến, chỉ vì việc tranh chấp xây bức tường, tể tướng Trương Anh đã hồi đáp một đoạn gửi về nhà. Người trong nhà đều xây lùi lại ba thước, sau đó nhà kế bên thấy vậy cũng cảm thấy áy náy, nên cũng xây lùi ba thước. Cuối cùng hình thành nên một con hẻm sáu thước. Tôi cũng đã từng đi đến con hẻm sáu thước đó rồi. Hồi ức về đạo đức và phong cách của người xưa, kết quả điều làm tôi kinh ngạc, chính là trong lúc tôi đang đi thì tất cả những chiếc xe đạp và xe mô-tô, chỉ cần nhìn thấy người là người ta đều dừng lại. Ồ, tôi vô cùng vui mừng, sự tu dưỡng của người xưa mấy trăm năm về trước đã ảnh hưởng đến nhân dân của mấy trăm năm sau. Đồng thời những người dân sống tại địa phương đó, mỗi lần giới thiệu với người khác đều nói, “chỗ chúng tôi có con hẻm sáu thước”. Cho nên, đức hạnh của con người quả thật có thể mang ân trạch đến người đời sau. Việc này gọi là tinh thần trường tồn, cuộc sống như vậy thật ý nghĩa.

Sau này nhà Dương Chứ lại xảy ra một sự việc, mộ của tổ tiên nhà họ bị một đứa trẻ nhỏ xô đổ, là mộ của tổ tiên. Người xô đổ mộ của tổ tiên chúng ta, thì phong thủy nhà ta chẳng phải đã bị làm hỏng toàn bộ hết rồi sao? Kết quả, người giữ mộ nhà họ đã nhanh chóng chạy về nhà, “thưa đại nhân, bia của ngôi mộ tổ đổ rồi! bị đứa trẻ nhỏ làm đổ rồi!”. Lúc đó Dương Chứ hỏi: “Đứa nhỏ đó có bị thương không?”. Các vị xem, sự tu dưỡng nằm ở chỗ nào? Ngay trong một chuyện xảy ra bất thình lình như vậy thì niệm đầu tiên của ông lúc đó chính là sự tu dưỡng. Giống như trong “Luận Ngữ” có nói, chuồng ngựa nhà Khổng Tử bị cháy, câu nói đầu tiên của Khổng Tử là gì? “Có ai bị thương không vậy?. Một con ngựa thời đó tương đương với một chiếc xe cao cấp hiện nay mà người xưa đã như thế nào? Không bị vật dục che mờ, toàn bộ những đồ vật và tài sản này của ông, ông không hề để chúng trong tâm.

Giống như vị danh tướng Hàn Kỳ đời Tống, người ta tặng cho ông một cái ly rất quý, gần như toàn quốc chỉ có một cái ly đó. Một vật quý như vậy, sau đó đã bị người hầu làm vỡ, ngay cả nhắc cũng không nhắc đến. Hàn Kỳ tiên sinh còn có một lần khác, binh sĩ giúp ông cầm cây nến, có thể vì phân tâm mà cầm làm sao đốt cháy luôn râu của ông. Kết quả, ông vuốt râu dập tắt lửa, tiếp tục xử lý công việc, nhìn qua một cái, nói “thôi đổi người khác”, đổi binh sĩ khác. Nhanh chóng nói, “thay ca đi! Anh ta không cẩn thận, đừng trách anh ta, đổi người khác thay anh ta”, thông cảm với binh sĩ, sợ anh ta bị trừng phạt. Mà đồng thời các vị xem, râu ông đã bị cháy rồi. Có lúc chúng ta nhìn thấy những sự hành trì này của người xưa nhưng thể hội chưa sâu sắc. Giả như mình thử đốt râu xem sao? Lửa cháy xém râu, lúc đó vẫn tâm bình khí hòa, woa như vậy thật không đơn giản. Khi Dương Chứ nghe nói mộ của tổ tiên bị xô đổ đã chạy đến nhà của người nông dân xem đứa trẻ đó có bị thương không. Sau khi nhìn thấy không hề gì, liền nhanh chóng nói với nhà đó, cẩn thận trông chừng trẻ nhỏ, đừng để nó bị thương. Xô đổ cả mộ tổ tiên mà một lời cũng không nhắc đến rồi ra về. Các vị nói người đọc sách như vậy, nhân dân địa phương có ai mà không khâm phục đạo lý của ông.

Dương Chứ có một lần nằm mộng, mộng thấy đang hái hai quả lê ăn. Sau khi tỉnh dậy vô cùng xấu hổ. Trong giấc mộng đã lấy của người ta hai quả lê, thì chính là công phu thực hành nhân nghĩa lúc bình thường chưa đủ, nên ba ngày không ăn cơm cảnh cáo bản thân, trách phạt bản thân đức hạnh không đủ, có khiếm khuyết. Cần phải học theo tinh thần này, tuy nhiên về cách thức thì nên cân nhắc một chút, tôi sợ nếu làm y chang có thể sẽ đói chết. Theo tiêu chuẩn này nhưng từ từ mà nâng cao, không nên trong phút chốc dùng lực quá mạnh. Dùng lực quá mạnh, ba ngày không ăn cơm thì người nhà của các vị đều sẽ phản đối, sao học “Đệ Tử Quy” mà học thành như thế này chứ. Chỉ cần chân chánh không lừa dối chính mình, đồng thời cần xét đến việc người ở bên cạnh có thể chấp nhận hay không. Các vị không nên khiến cho toàn bộ người trong nhà đều lo lắng sợ đến suýt chết, thế này thì không được.

Không thể lơ là việc học, học vấn xác thực là căn bản để lợi ích xã hội, không có trí huệ và học vấn chân thật mà muốn làm lợi ích người khác, nói sao mà dễ vậy. Dạy không đúng quan niệm và tư tưởng của mình cho người khác, không hại người ta là may mắn lắm rồi, còn giúp đỡ gì chứ. Cho nên việc lợi ích xã hội là quan trọng. Giống như lúc phát sinh ra xung đột giữa người và người vậy, những lời chúng ta nói là nhằm điều giải, hóa giải xung đột hay là vô hình trung khiến xung đột tăng thêm, bản thân mình có yên lặng để xét nghĩ chưa, đã nhận ra chưa? Có khi chúng ta nói ra một câu, đã tạo thành sự hiểu lầm ngăn cách bên trong đoàn thể. Ví dụ như cấp dưới đến hỏi một sự việc, “anh ấy làm như vậy có phải là sai hay không?”. “Tình hình này tôi sớm đã biết rồi, có thể có một vài hiểu lầm, tôi đã biết rõ từ trước rồi”. Việc này trước tiên có phải đã khiến cho tâm trạng của anh ấy ổn định trở lại? Con người ta trong lúc nóng nảy, trong lúc cảm tính thì nhìn sự việc không rõ ràng. Tuy nhiên nếu anh ấy nói việc này với chúng ta mà chúng ta lập tức nói, “đúng rồi, đúng là hắn sai rồi, tôi và anh đi gặp hắn nói chuyện nào”, như vậy thì rắc rồi rồi, đúng không? Nếu như các bạn là cấp trên mà thường xuyên xử sự cảm tính thì nhất định rằng cấp dưới sẽ không ngừng xảy ra xung đột. Người có địa vị càng cao, nói ra một lời khiến cho cấp dưới, người ngựa nhảy dựng cả lên; người có địa vị càng cao tạo một gợn sóng nhỏ trên mặt nước, thì những đợt sóng cao sẽ xuất hiện ở bên dưới. Mọi người có biết vì sao mà tôi có được sự thể hội này hay không? Bởi vì tôi đã làm không ít những chuyện như vậy. Rất may là đồng nghiệp của chúng tôi rất có tu dưỡng, đều bao dung tôi. Đương nhiên điều quan trọng hơn, là lúc họ chân chánh phát hiện ra vấn đề của tôi, nhất định muốn khuyên can tôi, nếu không thì câu nói này của tôi, “không cầu lập được công, chỉ cầu không phạm lỗi”. Bản thân tôi đã niệm câu nói này nằm lòng. Việc này tạo ra sự khiếm khuyết ở đức hạnh.

Vì sao trong “Hiếu Kinh”, vua của mỗi nước, câu nhận xét sau cùng là, “dè dè dặt dặt như vào hang sâu, như bước trên băng mỏng”. Bởi vì hiểu rõ được sức ảnh hưởng của một vị vua đối với đất nước là rất lớn. Ví dụ như, “Sở Vương hảo tế nữ”. Vua của nước Sở thích người con gái gầy, kết quả những nữ nhân trong nước Sở chết vì đói ngày càng nhiều. Các vị xem, sở thích này của cấp lãnh đạo đã khiến những người cấp dưới ráng hết sức để có được sự yêu thích đó, thì sẽ phát sinh vấn đề.

Chúng ta xem tiếp, “gặp cảnh khốn cùng cũng không thay đổi chí hướng”. Người gặp phải nghịch cảnh, khó khăn, gặp lúc gian khổ, không hề thay đổi một chút chí hướng thường ngày của mình. Cho nên, con người quý tại có ý chí. “Người mà có chí, như cây có rễ”. “Trong thiên hạ không có việc gì khó, chỉ sợ lòng người thôi”. Chỉ cần người đó không thay đổi, thì khi thời tiết nhân duyên chín muồi nhất định có thể đột phá. Nhưng người ta vì sao trong lúc khốn cùng thường thay đổi vậy? Có thể là do tham trước, tham giàu có, không thể thích nghi với nghèo khổ. Tham nhanh, tham tốt, khi không đạt được thì ỉu xìu, thụt lùi lại. Cho nên Sư trưởng Ngài đã tiêm cho chúng ta một mũi vắc-xin. Trong thời đại này, hoằng dương chánh pháp, hoằng dương văn hóa dân tộc, cần phải quỳ xuống mà đem chánh pháp trao tặng. Các vị học trưởng, các vị đã quỳ xuống bao giờ chưa? Vẫn chưa, phải không? Vậy hoàn cảnh các vị gặp phải cũng xem như là thuận duyên rồi, vẫn chưa gặp khảo nghiệm khó. Kỳ thực, mỗi một tình huống đều nhằm để thành tựu cho chính mình, nhờ những cảnh duyên này chúng ta mới nhìn thấy mình là thực lòng hay là giả ý. Nếu là thực lòng thì dù cảnh giới thế nào cũng đều không thay đổi cái chí nguyện này, như vậy mới là chân thật. Thật thì không giả, thật thì không thay đổi. Cho nên, “nghèo thì không hẳn phải lo, lo là vì nghèo mà không có chí”. Địa vị tương đối thấp, “địa vị thấp, nhưng không thẹn”. Không thể nói, vì địa vị tương đối thấp mà cảm thấy mất mặt được. Kỳ thực, điều tôn quý của một người là sự tận tâm tận lực với bổn phận của người đó, thì đáng được người khác tôn trọng. Nghành nghề nào cũng có người xuất sắc, đều là sự cống hiến tốt để phục vụ xã hội. “Địa vị thấp nhưng không thẹn, chỉ thẹn khi địa vị thấp mà lại bất tài”. Không chịu tìm cách nâng cao năng lực của bản thân để tạo phúc cho nhân dân. “Già nhưng không bi ai, bi ai là vì già nhưng không thành tựu, chết không than oán”. Con người ai cũng đều sẽ chết, kỳ thực không nên than oán. Những người đáng than oán là, “những người nên than oán là chết mà sống đời vô ích”. Chúng ta qua đời rồi, nghĩ lại một đời đối với gia đình và xã hội không có lợi ích, không giúp đỡ gì, đây mới là việc đáng để than oán.

Chúng ta xem, những câu nói này đối với toàn bộ giá trị nhân sinh quan là những lời giáo huấn vô cùng tốt. Chúng ta hãy bình lặng mà xem, người hiện giờ thẹn chuyện gì, lo chuyện gì, buồn chuyện gì, than chuyện gì? Đều là vì cảm thấy dường như tài sản của mình không bằng người, tiền kiếm được ít hơn người khác, sau đó vì điều này mà than thân trách phận. Kỳ thực điều này là không có khí tiết, không có chí hướng, giống như lục bình trôi sông, tự chuốc đau khổ và phiền não. Một người cả đời có giá trị hay không, so với địa vị cao thấp của người đó, số tiền kiếm được nhiều ít không hẳn là một sự so sánh chính xác. Giống như vừa rồi có nói với mọi người về bà Trần Thụ Cúc, bà ấy có tiền không, bà ấy có địa vị không? Không có, nhưng ý nghĩa cuộc đời của bà đã ảnh hưởng đến hàng ngàn hàng vạn con người khác. Cho nên, chúng ta lập định chí hướng đến chết cũng không đổi.

Chúng ta từng xem qua một vở kịch, trong đó có câu, “nam tử hán đại trượng phu, việc đã quyết định làm rồi thì quyết không thối chuyển, phải làm đến cùng”. Hình như là lời dạy trong vở kịch “Thương đạo” mà mẹ của tiên sinh Lâm Thượng Ốc từ nhỏ đã dạy ông ấy. Mẹ ông đã dạy ông những lời này thật vô cùng quan trọng, đứa con ấy cả đời sẽ có chí khí, trăm trận không sờn.

Chúng ta tiếp theo hãy xem câu thứ 61, phần “lập chí”. Trong quyển số 9, trang 1169, hàng thứ 7 từ dưới lên, “người hiền đức. Chúng ta hãy cùng nhau đọc.

“Người hiền đức thì sẽ không dùng những lời nịnh t ngọt ngào hoa mỹ làm tổn hại thánh đức của quân vương, không vì làm người khác vui lòng mà gió thổi chiều nào ngả theo chiều ấy, không làm việc tổn hại đến đạo nghĩa mà nghe theo dục vọng, không nhiễu loạn k cương pháp luật mà sợ hãi cường bạo. Trí tuệ của họ có thể phân biệt gian tà, hành vi của họ phù hợp với đạo nghĩa, không bao giờ cấu kết bè đảng gian trá”.

Chúng ta xem ở đây nhắc đến những người hiền đức, làm thần tử của người. “Bất tổn quân dĩ phụng nịnh”. Từ “phụng nịnh” này, là làm việc cho hoàng đế bằng những lời ton hót nịnh nọt. Tuyệt đối không phải ton hót nịnh nọt hoàng đế, sau đó làm tổn hại đức hạnh của quân vương, khiến cho thánh đức của quân vương bị tổn hại. Phong khí nịnh hót của bề tôi hình thành rồi, thì đức hạnh của hoàng đế đó nhất định sẽ không ngừng đi xuống.

Trong “Hiếu Kinh” cũng có nói: “Lúc vào triều thì tận trung với chức phận, khi thoái triều thì nghĩ cách bổ cứu khuyết điểm”. Vì vua mà suy nghĩ, đồng thời đặc biệt phải thận trọng giữ phong khí cho toàn bộ triều đình. Khi phong khí bị suy thoái, thì sự nguy hại đối với quân vương và thiên hạ là vô cùng lớn. Cho nên, “không dùng những lời nịnh nọt hoa mỹ tổn hại thánh đức quân vương”.

“Bất a chúng dĩ thủ dung”. Từ “thủ dung” này, nghĩa là khiến người vui thích, không phải cam tâm khiến người vui thích mà uốn mình chiều theo ý kiến của người. Người cương trực không a dua. Trong “Đệ Tử Quy” có câu: “Nói thẳng lời, không dẻ nịnh”. Người đó không tham, sẽ không tham công danh, tham lợi lộc. Cho nên, “không dục vọng thì cương trực”. Người đó mới có thể cương trực, mới không bị những phong khí không tốt trong đoàn thể ảnh hưởng.

Đọc đến hai đoạn này, chúng ta trước tiên lật sang trang 1111, quyển số 9, là cùng một quyển. Chúng ta xem, trong đây có một ví dụ minh họa cho câu, “không dùng những lời nịnh nọt hoa mỹ làm tổn hại thánh đức quân vương, không vì làm người khác vui lòng mà gió thổi chiều nào ngả theo chiều ấy”.

Trong đoạn số hai, “Ngụy Văn Hầu ngồi với các quan Đại Phu”. Ngụy Văn Hầu cùng với các quan đại phu của ông ngồi lại với nhau thảo luận sự việc. Kết quả, vua Ngụy Văn Hầu hỏi, “quả nhân hà như quân dã?”. “Quả nhân”, là vị vua như thế nào, mời các vị đại phu trả lời. “Chúng thần giai viết, quân nhân quân dã”. Thưa bệ hạ, Ngài là vị vua hết sức nhân từ. Mỗi một vị đều trả lời giống như vậy. Các quần thần, rất nhiều người đều trả lời như vậy. Ngay lúc đó, “thứ chí Địch Hoàng”. Chữ “thứ” này là thứ tự, hỏi tuần tự đến Địch Hoàng. “Viết, quân phi nhân quân dã”. Bệ hạ không phải là vị vua nhân từ. Mọi người tưởng tượng một chút, Ngụy Văn Hầu nghe xong rồi; đang lắng nghe một cách vui thích, đột nhiên “đùng”, đột nhiên có người nói các bạn không phải là vị vua nhân từ, trong phút chốc tâm trạng có thể chưa điều chỉnh, lập tức nói “viết, tử hà dĩ ngôn chi”. Khanh nói như vậy nghĩa là sao? Sao khanh lại nói trẫm không phải là vị vua nhân từ? Sao khanh biết được trẫm không phải là vua nhân từ? “Đối viết”. Tiếp theo nói. “Quân phạt trung sơn”. Bệ hạ khi thảo phạt nước Trung Sơn, lãnh thổ của nước này. “Bất dĩ phong quân chi đệ”. Theo lý mà nói, dựa trên công lao và nhiều mặt để nói thì nên phong tặng cho hoàng đệ của bệ hạ. “Nhi dĩ phong quân chi trưởng tử”. Mà bệ hạ lại phong tặng cho con trai trưởng của ngài. “Thần dĩ thử tri quân chi phi nhân quân dã”. Từ việc này mà thấy, bệ hạ không phải là hoàng đế nhân từ. “Văn Hầu nộ nhi xuất chi”. Ngụy Văn Hầu lập tức nổi giận. “Ngươi cút đi cho ta”. Liền bảo Địch Hoàng rời khỏi nơi này. Kết quả sau khi Địch Hoàng đi khỏi, vẫn tiếp tục thảo luận. “Thứ chí Nhậm Tòa”. Hỏi đến đại thần Nhậm Tòa. “Văn Hầu vấn viết, quả nhân hà như quân dã, Nhậm Tòa đối viết, quân nhân quân dã”. Mặc dù nhiều vị quan trước đó đều nói như vậy, Ngụy Văn Hầu nghe xong đều rất vui mừng, nhưng sau khi Địch Hoàng nói xong thì bầu không khí có hơi bất thường. Đột nhiên lại có người nói, “bệ hạ là vua nhân từ”. Ngụy Văn Hầu nói: “Tại sao khanh lại nói trẫm là vị vua nhân từ, khanh nói lý do nghe xem nào”. Có thể ông ấy đã nhận ra, có phải các quan đang nói những lời tốt đẹp cho mình nghe không? Tiếp theo, “đối viết, thần văn chi”. Thần đã từng nghe rằng. “Kỳ quân nhân giả kỳ thần trực”. Nếu Ngài thực sự là vị vua nhân từ, thì thần tử bên dưới của Ngài sẽ vô cùng chánh trực, cương trực. “Hướng Địch Hoàng chi ngôn trực”. Vừa rồi lời nói của Địch Hoàng hết sức chánh trực, cho nên bệ hạ xem, thần tử của bệ hạ dám chánh trực như vậy. “Thị dĩ tri quân nhân quân dã”. Ồ, các vị quan cũng có khi nhanh trí như vậy, trí huệ thật không đơn giản. Nhưng mà các vị xem, tác động lên một vị quân vương cần phải có sự phối hợp của một tập thể, cần phải đánh hội đồng mới được. Cho nên, các vị xem giữa các vị trung thần, “đồng tâm tương trợ, anh hùng quý trọng nhau”. “Văn Hầu viết, thiện”. Nói hay lắm. “Phục chiêu Địch Hoàng”. Mau đi gọi Địch Hoàng về đây, phong ông ấy làm Thượng Khanh. Ngụy Văn Hầu này cũng không đơn giản, ngay lập tức chuyển niệm, vẫn còn có thể lập tức điều chỉnh tâm ý, khẳng định sự chánh trực của Địch Hoàng. Đặc biệt kể về việc riêng trong nhà của mình, người ta dễ dàng, “anh quản chuyện nhà tôi nhiều như vậy để làm gì?”. Người ta dễ vì chỗ riêng tư nhất ở trong lòng mà đặc biệt mẫn cảm, dễ dàng nổi giận. Kỳ thực, ở những chỗ như vậy mà không có lòng riêng thì mới thật là công tâm. Cho nên, ví dụ này minh họa cho đoạn câu nói này, xác thực là, “dùng những lời nịnh nọt ngọt ngào hoa mỹ làm tổn hại thánh đức quân vương”.

Mọi người xem, lúc trước các vị quần thần đó nói, “bệ hạ là vị vua nhân từ”, những người đó có dùng những lời ngọt ngào làm tổn hại thánh đức quân vương không? Có đó. “Không vì làm người khác vui lòng mà gió thổi chiều nào ngả theo chiều đó. Kỳ thật mà nói, Địch Hoàng sau khi nói xong câu đó đi ra ngoài có cảm thấy vui vẻ không? Những người nói, “vua là người nhân từ”, thường xuyên liếc nhìn ông “có gì tài giỏi đâu!”. Cho nên hiện giờ làm người tốt rất khó, làm người tốt nhưng người khác tu dưỡng không tốt sẽ thường đố kỵ, bới móc khuyết điểm, nói lời mỉa mai. Cho nên trong “Liễu Phàm Tứ Huấn” có câu, “thiện ý với người, thành toàn việc tốt cho người”. Gặp được những người có chí và đức hạnh, có thể là tuổi tác không lớn, những nhân tình sự lý như vậy có đôi khi cũng chưa làm được đến chỗ viên dung, đắc tội với người thì hãy mau mau nhắc nhở người ấy, hoặc là giúp người ấy giải quyết khó khăn, đây đều là cái tâm của bậc phong thái tôn quý, nhân từ. Bởi vì thành tựu cho một người tài có đức hạnh, kỳ thực không dễ dàng. Trong quá trình người đó gặp rất nhiều thử thách, thì một câu nói của một người nhân từ có thể giúp người đó có thêm sức lực, có thể hóa giải toàn bộ nguy nan cho người đó.

Tiếp theo từ “đọa công” này, cũng có bản gọi là “huy”. “Huy”, có nghĩa là hủy hoại; hủy hoại lợi ích của tập thể, hủy hoại công đạo. Từ “thính tư”, chính là thuận theo tâm tham tư dục của người, lấy của công làm của riêng, là rất sai lầm. “Bất nạo pháp dĩ thổ cương”. Từ “thổ cương”, nghĩa là ưa nặng không ưa nhẹ, sau đó gặp hoàn cảnh thô bạo thì lại thuận theo, thoái tâm, rồi bẻ cong công lý và chánh pháp. Hoặc là làm quan, hay là thế lực của xã hội đen cũng đều phục tùng theo cả, thậm chí còn nối giáo cho giặc, đó chính là “nhiễu loạn k cương pháp luật mà sợ hãi cường bạo”. Cho nên, với sự tu dưỡng và đức hạnh như vậy thì, “k minh năng chiếu gian”. Trí huệ của người đó có thể phân biệt được gian tà. “Nhi nghĩa bất tỉ đảng”. Hành vi của người đó phù hợp với đạo nghĩa, nhất định sẽ không kết bè phái để tư lợi. “Nghĩa bất tỉ đảng” này, là người có đạo nghĩa sẽ không tạo đảng phải để tư lợi. Bởi vì “nghĩa” và “lợi” đối lập nhau; trọng nghĩa thì khinh lợi, trọng lợi thì khinh nghĩa.

Khổng Tử trong “Luận Ngữ” có nói: “Quân tử thân với khắp mọi người mà không tư lợi, kẻ tiểu nhân tư lợi mà không thân với khắp mọi người”. Từ đây chúng ta thấy được sự khác biệt trong sự tu dưỡng giữa tiểu nhân và quân tử. Kỳ thực, chữ “chu” và “tỉ” này, chủ yếu chính là điểm mấu chốt giữa công và tư, điểm mấu chốt giữa nghĩa và lợi, bao hàm luôn “chu” và “thiên”. Từ “chu”, đại biểu cho quân tử lấy đại cục làm trọng, luôn luôn suy nghĩ chu đáo, nghĩ cho đoàn thể; còn tiểu nhân thì thành kiến, thiên vị, dễ thỏa hiệp, sẽ tạo thành những hiện tượng như vậy. Trong chú giải của người xưa, chữ “chu” này biểu hiện cho hành vi của một người phù hợp với trung và tín. Chữ “tỉ”, chính là kết bè đảng để tư lợi. “Không bao giờ cấu kết bè đảng gian trá”.

Chúng ta xem quyển số hai, trang 193, có một thí dụ có thể minh họa, thậm chí khiến chúng ta hiểu thêm về đoạn này. Trang 193, hàng đầu tiên. Kỳ thực, chữ “chu” và chữ “thiên” không dễ phân biệt. Mọi người đã gặp phải việc người bạn chí cốt của mình, khi mọi người nói đến anh ấy thì lúc đó tâm trạng của của chúng ta như thế nào? “Sao anh có thể nói về người bạn tốt của tôi như vậy?”. Kỳ thực, câu nói này có thể là có sự thiên vị. Kết giao bằng hữu là phải giúp đỡ lẫn nhau thành tựu đức hạnh, không thể biến thành che đậy cho nhau rồi lừa gạt làm trái đạo được.

Chúng ta hãy xem chuyện “Thúc Hướng gặp con của Tư Mã Hầu”. Thúc Hướng là đại thần của nước Tấn, ông gặp con của Tư Mã Hầu. Tư Mã Hầu lúc đó cũng là đại thần của nước Tấn, nhưng mà ông đã qua đời rồi. Qua đời không bao lâu thì Thúc Hướng gặp con của ông, “phủ nhi khấp chi”. Thúc Hướng dù sao cũng là vãn bối của ông, đã vỗ về con ông, an ủi người con, sau đó bản thân ông cũng rơi nước mắt, đau xót mà nói, viết, tự kỳ phụ chi tử, ngô mạc dữ bỉ nhi sự quân h. Sau khi phụ thân của người qua đời, tôi không còn có thể tìm được người có thể cùng tôi. Chữ “tỉ” này là gì? Cùng tôi kề cận, chung lưng đấu cật. Mọi người học văn hóa truyền thống, thấy cùng là một từ nhưng ý nghĩa của nó không nhất định như nhau. Chữ “tỉ” ở đây là chung lưng đấu cật, nắm tay cùng đi, can gián quân vương, thành tựu những chính sách quan trọng. Cơ hội như thế này đã không còn nữa, cho nên ông ấy rất đau lòng. “Tích giả kỳ phụ thủy chi, ngã chung chi”. Nghĩ đến năm xưa, năm đó cha của người đầu tiên giảng thuật, sau đó tôi theo đó mà giải nghĩa, đem toàn bộ tình huống phân tích rất rõ ràng. Quân vương nghe hiểu rồi thì có thể nghe theo lời khuyên đó mà ban bố một vài chính sách. Ở đây còn nói: “Vị hữu sở tạo vi, cập gián tranh tương vi, chung thủy thành kỳ sự dã”. Thành tựu mỗi một việc không hề như nhau. Các vị phải phân tích tình huống cho rõ ràng để cải đổi những suy nghĩ sai lầm của quân vương, thậm chí còn khuyên giải sai lầm của quân vương, thì việc tiến thoái này mới thật sự là có người chung lưng đấu cật phối hợp. Quả thật là khác nhau quá nhiều. “Ngã thủy chi, phu tử chung chi”. Giả như tôi mới bắt đầu, tôi tiên phong ra trận, cha của người lo việc hậu vệ, phối hợp với nhau rất tốt. “Vô bất khả”. Có nghĩa là có thể phối hợp thật tốt, thành tựu sự việc. “Tịch Yển tại trắc viết”. “Tịch Yển” này cũng là một vị quan đương thời, ở kế bên nhìn thấy hai người họ phối hợp với nhau như vậy, nói một câu là, “quân tử hữu tỉ hồ”. Chữ “tỉ” này là, “quân tử cũng biết lập đảng phái riêng đây mà”. Ở đây nói: “Quân tử chu nhi bất tỉ”, là nhắc đến điển cố này. Người ở kế bên không nhất định có thể nhìn mà hiểu được, có lúc cũng hiểu lầm. Hai người các vị giao hảo tốt như vậy, bên tung bên hứng, có phải các người đang lập bè đảng không.

Tiếp theo, “Thúc Hướng viết”. Thúc Hướng nói với Tịch Yển. “Quân tử tỉ nhi bất biệt”. Chữ “tỉ” này, nghĩa là chung vai sát cánh hợp tác, thành tựu sự việc. Nhưng từ “bất biệt”, nghĩa là không lập đảng phái riêng. Lập bè cánh riêng để tổn hại lợi ích quốc gia nhất quyết không làm, không làm những việc như vậy. Cho nên họ, “tỉ đức dĩ tán sự”. Cùng nhau phối hợp, thành tựu đạo đức của quân vương, thành tựu sự việc. Từ “tán sự”, có nghĩa là có thể thành tựu sự việc có lợi cho nhân dân, gọi là “tỉ dã”. Chữ “tán” này là phò tá tốt sự việc này. “Dẫn đảng dĩ phong kỷ”. Thông qua vây cánh này mà mưu lợi riêng cho chính mình. “Lợi kỷ nhi vong quân”. Tự tư tự lợi rồi quên luôn quân vương, quên luôn đất nước, đây gọi là “biệt dã”. Thí dụ này đã khiến cho chúng ta hiểu được, giữa hai người quân tử với nhau, họ rất hòa hợp không phải để lập bè phái riêng, mà họ là công tâm không có tâm riêng tư, thậm chí là khi cách nhìn của họ không giống nhau có thể tranh cãi đỏ mặt tía tai. Có câu là: “Quân tử ư vi nghĩa chi thượng tương tật dã”. Chữ “tật” này là lời nói thẳng không cong quẹo, đưa ra quan điểm của mỗi người. Có thể đôi khi đụng chạm đến đối phương, nhưng mà là vì cái gì? Vì chính sách của nước nhà, vì nhân dân. Khi thảo luận xong rồi, từ việc vừa mới đối lập bất đồng với nhau, nhưng rời khỏi triều đình, vừa rời khỏi cuộc nghị luận xong thì “nào nào, lại cùng uống một ly nào”, tuyệt đối sẽ không nói, “vừa rồi ông ta nói chuyện với ta lớn tiếng như vậy, khiến ta tức chết”, tâm lượng không có nhỏ như vậy. Bởi vì khi thảo luận đến hồi kịch liệt thì khó tránh khỏi giọng điệu hơi cao một tí, tuyệt đối không để bụng những việc như vậy. “Quân tử ư vi nghĩa chi thượng tương tật dã, thoái nhi tương ái, tiểu nhân ư vi loạn chi thượng tương ái dã”. Khi tiểu nhân mưu cầu lợi riêng thì ý anh ý tôi, “thoái nhi tương ác”. Không có lợi ích gì có thể mưu cầu, thì lập tức hãm hại lẫn nhau, xuất hiện hai con chó cắn nhau.

Hôm nay xin chia sẻ với mọi người đến đây! Xin cám ơn mọi người!

HẾT TẬP 52 – Xin xem tiếp tập 53 – Quần Thư Trị Yếu 360