QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 GIẢNG GIẢI – TẬP 56

Chủ giảng: Thầy giáo, Tiến sĩ Thái Lễ Húc
Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ
Thuyết minh: Hạnh Quang
Download toàn bộ MP3



Quần thư trị yếu 360 – Tập 56

TU THÂN – TỀ GIA – TRỊ QUỐC – BÌNH THIÊN HẠ

Chúng ta xem câu 65 ở quyển thứ 2, trang 214. Chúng ta cùng nhau đọc qua một lần.

Khổng Tử nói: “Người quân tử vì quân vương phụng sự, khi làm quan trong triều luôn nghĩ cách làm sao để tận trung, luôn lo nghĩ cho quốc sự; khi không còn ở triều mà lui về quê, lại luôn nghĩ làm sao để chỉnh sửa những sai sót của quân vương. Đối với ưu điểm của quân vương nhất định phải hỗ trợ phát huy, đối với khuyết điểm nhất định khuyên răn chỉnh sửa, cho nên quân vương bên trên và thần tử bên dưới đều có thể tương thân tương ái”.

Người quân tử có đức, khi họ phụng sự quân vương của họ, “tiến tư tận trung, thoái tư bổ quá”. Mà sự tiến thoái này, khi họ còn làm quan ở triều đình. “Tiến”, chính là khi ở trong triều đình có thể toàn tâm toàn lực phò trợ quân vương. “Thoái tư bổ quá”, là khi họ về nhà, thoái triều rồi, vẫn tiếp tục cân nhắc, vẫn đang tận lực, hoạch định những sự việc quan trọng cho đất nước. Hoặc giả là hoàng thượng, quân vương có điều gì chưa thỏa đáng, thì họ suy nghĩ tìm cách để khuyên nhủ như thế nào cho khéo léo. Đây là, “thối tư bổ quá”, tiến thoái đều với tới. Ví dụ như ở trong triều đình làm quan thì là “tiến”, thì “tận trung”; sau khi được bãi quan, rời khỏi triều đình, “thoái tư bổ quá”.

Chúng ta xem Phạm Công là người, “khi ở địa vị cao trong triều thì lo cho dân, khi phiêu bạt bốn phương trời thì lại lo cho vua”. Cho nên tiến thoái cũng có khả năng là đang ở trong triều, hoặc là đang làm quan tại nơi khác. Không ở bên cạnh quân vương cũng là nghĩ đến, “tiến thoái bổ quá”. Không có ở bên cạnh vẫn là phát hiện ra được cái sai của vua, cũng phải khuyên can, dâng tấu dâng sớ. Trong quá trình sửa sai cũng tự thân, trong quá trình phụng sự quân vương, tiến thoái là có chỗ nào chưa thỏa đáng hay không, tự mình cũng tận tâm để mà phản tỉnh. Có thể tuy chúng ta khuyên can lãnh đạo, đạo lý tuy nói ra rất chính xác, nhưng mà trên thái độ và ngữ khí lại quá mạnh mẽ, quá kịch liệt, thậm chí tự mình cũng tức giận, vậy người cấp trên đó tâm tình khi cảm nhận được việc này họ cũng không dễ dàng gì tiếp nhận lời nói của chúng ta. Cho nên cũng phải hết sức bình tĩnh để mà quán chiếu tâm thái của chính mình, đây cũng là phần bổ quá sửa sai. Càng kéo dài thêm nữa, thậm chí như Khương Thái Công, khi đó là những năm cuối của triều nhà Thương. Trụ vương không thể tiếp nhận lời khuyên của đại thần, thời cơ phục vụ đất nước chưa được thành thục, thế nên Thái Công ở Vị Thủy câu cá, kỳ thực là đang đợi thời cơ, đợi một vị minh chủ. Những vị Thánh Hiền này khi thời cơ chưa thành thục thì họ cũng không cưỡng cầu. Chỗ này chúng ta xem, “tiến tư tận trung, thoái tư bổ quá”. Cũng chính là niệm niệm đều nghĩ đến làm sao để vì quốc gia, vì quốc quân mà suy nghĩ. “Tương thuận k m. Đối với ưu điểm của quân vương, đối với quan niệm tư tưởng chính xác thì thúc đẩy và phát dương. “Khuông cứu k ác”. Đối với những khuyết điểm lỗi lầm của họ thì phải mau mau giúp họ sữa chữa. Hơn nữa, tấm lòng này phải luôn thể hiện trong lúc qua lại với quân vương, để quân vương cảm nhận được cũng sẽ vô cùng cảm ân người thần tử như vậy.

Chúng ta xem Thái Tông hoàng đế, nhiều lần khi ở trước mặt đại chúng quần thần đều nói đến công lao sự nghiệp “Trinh Quán Chi Trị” của ông, đều cảm kích sự giúp sức của Ngụy đại nhân. Các vị thấy được sự quý trọng, thông hiểu lẫn nhau của quân thần ấy, quan trọng nhất chính là quân thần là đồng tâm đồng đức, vì nước vì dân. Bởi vì, đồng tâm rồi có thể tương thân tương ái. Mà đoạn này ở trong “Hiếu Kinh”, là dẫn lời ở trong “Thi Kinh” để làm lời kết. “Tâm hồ ái h, hà bất vị h, trung tâm tạng chi, hà nhật vong chi”. Trong lòng luôn luôn không thay đổi tấm lòng chân thành này, phần trung thành này, dù cho xa cách quân vương bao xa thì tấm lòng này đều không có chút thay đổi. Cho nên, người con hiếu suy nghĩ về cha mẹ cũng như vậy, người trung thần phò trợ quân vương cũng như vậy, gọi là “chuyển lòng hiếu thành lòng trung”. Đây là tấm lòng tận trung. Giả như là làm quan phụ mẫu ở địa phương, vậy thì tận trung chính là biểu hiện ở tận tâm tận lực yêu thương lão bá tánh, làm tốt công việc chính trị. Thương yêu nhân dân, càng quan trọng hơn nữa là giáo dục họ cho tốt, người dân có đạo đức, gia đình của họ hạnh phúc, xã hội liền được an định. Cho nên người làm quan phụ mẫu thì phải đem việc giáo hóa đặt lên hàng đầu.

Chúng ta xem thấy Trần Hoằng Mưu tiên sinh triều nhà Thanh, ông đi qua mười mấy tỉnh đều để lại danh tiếng tốt. Trong thời gian khi ông làm quan tại Giang Tây, xem trọng việc giáo hóa, sau đó ông qua đời. Trải qua hơn 100 năm sau, lại có một vị quan khác đi đến nơi đó, vị quan này vô cùng kinh ngạc vì việc giáo dục của Tiên sinh Trần Hoằng Mưu hơn 100 năm trước đối với lão bá tánh đến hơn 100 năm sau mà vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc. Cho nên trong “Lễ Ký-Học Ký” nói: “Kiến quốc quân dân, giáo học vi tiên”.

Vào thời triều nhà Tùy, có một vị quan tên là Lương Ngạn Quang, Ông đi đến Tương Châu làm huyện lệnh, bởi vì lòng người dân ở địa phương nơi đó tương đối hung hiểm, tương đối hà khắc. Kỳ thực, khi chúng ta làm quan, làm một cấp trên, nhìn thấy những người cấp dưới có tình trạng như vậy, chúng ta không chỉ không thể chỉ trích, ngược lại còn phải hết sức thương xót, bởi vì “nhân chi sơ tánh bổn thiện”. Họ tuy rằng hiện tại đã sai lệch đến mức độ như vậy, cuộc sống như vậy thật là rất thảm thương, không chỉ không thể chỉ trích, ngược lại phải tiến thêm một bước là yêu thương giúp đỡ những người cấp dưới này. Vì vậy Lương Ngạn Quang nhìn thấy tình huống này đã gấp rút mời về rất nhiều nhà Nho có học vấn để xây dựng trường học, sau đó giáo hóa lão bá tánh. Những sách không phải của Thánh Hiền thì không thể được lưu hành, để bảo vệ tư tưởng quan niệm của người dân nơi đó. Trải qua một khoảng thời gian, toàn bộ phong tục nếp sống đã chuyển biến thành xem trọng lễ – nghĩa – liêm – sĩ, xem trọng đạo đức, cho nên nhân dân là có thể dạy để trở nên tốt hơn. Trong đó có một người dân tên gọi là Tiêu Thông, người này bất hiếu cha mẹ. Kết quả, các anh em họ đã tố giác người này, nói anh là người bất hiếu, cầu xin quan phủ trị tội. Thế nhưng, Lương đại nhân lại không lập tức trị tội anh, bởi vì “bất giáo nhi sát vị chi ngược”. Nghĩa là chưa có dạy dỗ họ mà xử phạt họ thì biến thành bạo ngược. Ông đưa người này đi đến miếu Khổng Tử, đúng lúc trong miếu Khổng Tử có một bức tranh vẽ về hiếu hạnh của Hàn Bá Dư, là cảnh mẹ ông đánh ông. Kết quả, bởi vì mẹ đánh không đau mà Bá Dư lại khóc. Từ nhỏ đến lớn khi bị mẹ xử phạt ông đều không hề khóc, nhưng mà lần này lại khóc. Người mẹ của ông cũng rất lấy làm lạ, “con từ xưa đến giờ không khóc, vậy tại sao hôm nay lại khóc vậy chứ?. Bá Dư nói với người mẹ: “Lúc trước mẹ đánh con đều cảm thấy rất là đau, hôm nay thì cảm thấy không đau, có nghĩa là sức lực của mẹ đã yếu rồi, thân thể đã yếu rồi”. Người con nghĩ đến người mẹ tuổi đã già, sức lực đã yếu, vừa nghĩ đến đây thì trong lòng đã buồn lo, không biết là còn được bao nhiêu năm tháng nữa có thể tận tâm phụng dưỡng người mẹ già này. Lương đại nhân dùng bức tranh vẽ này nhẹ nhàng đem câu chuyện đó nói cho Tiêu Thông nghe. Trong lúc kể, Tiêu Thông cũng sám hối, cũng phản tỉnh, sau đó hối lỗi sửa sai, cũng đã trở thành một người tốt tại địa phương đó. Cho nên yêu dân, tiến thêm một bước là giáo hóa nhân dân, khiến cho lão bá tánh ở địa phương này nhân tâm đều nhận được giáo dục của Thánh Hiền. Sự ảnh hưởng này có thể là ở tại địa phương đó kéo dài suốt mấy đời.

Tiếp theo, chúng ta xem câu 66. Tiếp đến là một bài mục khác, là thân phận bề tôi phải tận hết bổn phận khuyên can. Câu 66 này, chúng tôi có điều chỉnh một chút, là ở quyển thứ 9 trang 1.212. Trong “Quần Thư Trị Yếu” có nói: “Làm vua khó, làm quan cũng không dễ”. Làm thần tử của người ta cũng là một việc không dễ. Ví dụ nói việc khuyên can cũng phải tương đối có trí huệ, tương đối có dũng khí. Cái khó của thần tử là ở đâu vậy? Chúng ta hãy xem trang 1.212 này, trong phần này có nói đến, “nhân thần chi hoạn”. Nghĩa là họa hoạn của thần tử, sự hoạn nạn của họ. “Thường lập ư lưỡng tội chi gian”. Thần tử tội của họ thường nằm trong hai tội này. Là hai tội nào? Tiếp theo nói: “Tại chức nhi bất tận trung trực chi đạo, tội dã”. Khi họ tại vị, ngược lại không có tận tâm tuân thủ. “Trung trực chi đạo”. Không có tận tâm tận lực, điều đáng nên nói, điều đáng nên khuyên thì lại không khuyên. Đó là lỗi lầm. Đây cũng như là việc ngồi không ăn bám, đây là tội. Tiếp đến là: “Tận trung trực chi đạo yên, tắc tất kiểu thượng phất hạ, tội dã”. Họ tận được đạo trung trực của một thần tử, vậy thì tất nhiên phải “kiểu thượng”, chính là phải giúp quân vương sửa chữa. Người quân chủ tốt có thể tiếp nhận, quân chủ chưa đủ tu dưỡng thì có thể trách tội họ, cũng có thể bãi miễn chức quan của họ. Còn “phất hạ”, bạn đều là đại công vô tư, rất có thể những người có được lợi ích từ việc này sẽ đối lập với bạn, sẽ gây phiền phức cho bạn, đặc biệt là đại thần. Có rất nhiều quan viên các bộ phận dưới quyền họ, bạn thì vô cùng chính trực, cấp dưới lại có mưu lợi riêng, bạn làm chướng ngại tư lợi của họ, vào lúc này họ có thể sẽ mượn cớ này làm việc khác để hãm hại bạn, hủy báng bạn. Cho nên lúc đó đều phải cẩn thận lời nói việc làm, thì mới không đến nỗi gặp phải những việc vu cáo mưu hại. Vì vậy, cẩn thận cũng rất là quan trọng. “Tội dã”, bởi vì tận trung trực chi đạo tất nhiên sẽ thu hút sự chỉ trích của quân vương, thậm chí là các bạn đồng liêu trách móc, nhưng lúc này cũng cần phải chấp nhận. Cho nên Khổng Tử ở trong “Luận Ngữ” vừa mở đầu liền nói: “Nhân bất tri nhi bất uấn, bất diệc quân tử hồ”. Trong mối quan hệ ngũ luân, vì tốt cho cha mẹ, vì tốt cho con cái, vì tốt cho mọi người, vì tốt cho quân vương, vì tốt cho bạn bè, có lúc đối phương không thể lý giải được, ngược lại hiểu lầm, chỉ trích bạn, vào lúc này cũng có thể bao dung. “Hữu tội chi tội, tà thần do chi”. Bởi vì chưa tận hết bổn phận, không có giữ trung trực chi đạo, vậy đương nhiên là tội lỗi rồi. Đây là tà thần tự mình chiêu cảm ra tội ác, họ không rõ bổn phận của việc làm người. “Vô tội chi tội, trung thần chí chi”. Bởi vì tận trung trực chi đạo, ngược lại nhận được là sự trừng phạt và chỉ trích. Bản thân là vô tội, không chỉ là vô tội mà lòng trung này còn đáng được tôn sùng, nhưng vẫn là chiêu cảm ra những việc bị trừng phạt, vậy thì trung thần vẫn phải chấp nhận. Đặc biệt chúng ta trong thời đại này, thật sự đại công vô tư đi làm việc cũng rất khó không đắc tội với người khác, vào lúc này cũng không thể bởi vì sợ nhân tình thế thái mà trì hoãn việc của đại chúng, của đất nước. Nội tâm của chúng ta đối với bất kỳ một người nào đều không có sự đối lập, không có xung đột, nhưng quyết định là không dùng tình cảm để làm việc chung. Cho dù nhận phải những sự chỉ trích, chúng ta dùng chân thành, từ bi, từ từ hóa giải cái duyên này đi, không cần lo lắng, sống lâu sẽ rõ lòng người. Cho nên, đoạn này của chúng ta nói đến lỗi lầm của thần tử, nếu không tận trung trực chi đạo là có tội. Thần tử không phải là toàn tâm toàn ý làm việc thì cũng là tận đến sự trung thành, là tất cả các bổn phận đều phải có thể làm tốt, thì mới là tận trung.

Ví dụ như, chúng ta hôm nay một ngày làm việc mười mấy giờ đồng hồ, từ sáng đến tối, tự mình trong lòng cũng cảm thấy đối với đoàn thể, đối với lãnh đạo rất trung thành, nhưng chúng ta thân là người phụ trách một bộ phận, bồi dưỡng nhân tài cũng là bổn phận của chúng ta. Giả như bận rộn đến sau cùng đều là bận rộn ở trên sự tướng, lơ là đi việc bồi dưỡng nhân tài cho đoàn thể, thì sự tận trung này cũng chưa viên mãn. Hơn nữa, một người lãnh đạo phải nên bồi dưỡng cho cấp dưới, bình tâm mà mưu hoạch tất cả công việc cho tương lai, trao nhiều quyền hạn hơn nữa cho cấp dưới để họ trưởng thành. Việc gì chúng ta cũng đều tự mình ôm hết, bản thân bận bịu còn cấp dưới thì không được làm, họ cũng chân tay lúng túng, họ không biết phải làm gì, dần dần cảm thấy bạn xem nhẹ họ, không tôn trọng họ, ngược lại người bên dưới nảy sinh ra sự oán hận. Cho nên những sự lý này cũng cần phải rõ ràng, nếu không tự mình làm đến sau cùng thân tâm đều mệt mỏi. Ngược lại cấp dưới không tán đồng, cấp trên cũng không tán đồng, thì đã phạm vào điều mà “Đệ Tử Quy” nói. “Nếu gắng làm, không học văn”. Chỉ là dựa vào ý kiến của chính mình, dốc sức làm dốc sức làm. “Theo ý mình, mù lẽ phải”. Cho nên khi chúng ta ở trong gia đình, ở trong đoàn thể, tận tâm tận lực ra sức đóng góp, sau cùng nhận được vẫn là rất nhiều sự bất đồng, vậy vào lúc này vẫn là phải từ trong Kinh Điển để đi tìm vấn đề mấu chốt của nó.

Tiếp theo, đoạn văn này cũng là chỉ ra một cách cụ thể, không có tình trạng tận trung trực chi đạo. Chúng ta nhìn thấy phía dưới đã nói, “nhân thần hữu tam tội”. Làm thần tử có ba cái tội. “Nhất viết đạo, nhị viết a thất, tam viết thi sủng, dĩ phi tiên thượng, vị chi đạo, tùng thượng chi phi, vị chi a, kiến phi bất ngôn, vị chi thi, đạo thần chu, a thần hình, thi thần truất”. Ba cái tội của thần tử, thứ nhất là dùng tư tưởng sai lầm, dẫn dắt quân vương làm sai. Thứ hai, là đối với những lỗi lầm của quân vương không có chỉ ra chỗ sai, ngược lại còn hùa theo, a dua nịnh nọt theo quân vương, sai mà vẫn nói là đúng. Thứ ba, là “thi sủng”. Bởi vì tham luyến sự sủng ái của quân vương, khi có lỗi lầm cũng không dám thẳng thắn nói ra, sợ bị mất đi sự sủng ái này. Tiếp theo lại nói, “dĩ phi tiên thượng, vị chi đạo”. “Phi”, chính là tư tưởng sai lầm, dẫn dắt quân vương đi sai đường. “Tùng thượng chi phi”, cấp trên đã sai mà vẫn hùa theo họ, vậy thì quân vương càng không biết là mình sai ở chỗ nào, sẽ sai lại càng sai. “Kiến phi bất ngôn, vị chi thi”, nhìn thấy sai lầm ngược lại im lặng không nói. “Thi” là ngồi không mà hưởng lương, không có tận hết trách nhiệm khuyên can. “Đạo thần chu”, đem tư tưởng quan niệm của quân vương dẫn dắt sai lầm, sự nguy hại này đối với quốc gia là rất lớn, thần tử như vậy đáng phải xử tội chết. “A thần hình”, là thần tử a dua nịnh hót phải nên giáng tội, phải xử phạt. “Thi thần truất”, kẻ ăn không ngồi rồi không tận hết bổn phận phải loại trừ, không thể để họ làm quan.

Đoạn văn này khiến chúng ta hiểu được “cha mẹ lỗi” thì phải “khuyên thay đổi”. Đây là bổn phận. Trong “Hiếu Kinh” nói: “Thiên tử có bảy vị thần tử chịu can ngăn, tuy vô đạo nhưng cũng không mất thiên hạ. Chư hầu có năm thần tử chịu khuyên, tuy vô đạo cũng không đến nỗi mất nước. Quan lớn có ba cấp dưới chịu khuyên, tuy vô đạo cũng không đến nỗi mất nhà”. Vì vậy, việc khuyên ngăn rất quan trọng. Mà khuyên can vẫn có cái trí huệ khác nhau, thời cơ không như nhau.

Chúng ta tiếp theo xem, trong sự khuyên can đó vẫn còn có ba phương pháp khác nhau. Cũng trong cùng một trang, chúng ta xem ngược đến hàng thứ 4. “Trung hữu tam thuật”. Đoạn này chúng ta cùng nhau đọc qua một lần.

Sự trung thành của hạ thần có ba biểu hiện: một là dự phòng, hai là cứu chữa, ba là cáo giới. Khi vẫn chưa xuất hiện sai lầm thì nghĩ cách né tránh, gọi là “phòng”; khi đã xuất hiện sai lầm thì tiến hành khuyên ngăn, gọi là “cứu”; khi đã gây ra hậu quả rồi thì thẳng thắn chỉ trích, gọi là “giới”. Dự phòng là kế sách thượng đẳng nhất, cứu chữa xếp kế tiếp, cáo giới là hạ đẳng nhất”.

Tận hết lòng trung để khuyên can có ba loại phương pháp, ba loại tình huống.

Loại thứ nhất là dự phòng. Sự tình vẫn chưa hình thành thì đã biết ngăn ngừa, đem sự tình này hóa giải hết. “Nhị viết cứu”, chính là sự việc vừa phát sinh thì hãy mau bổ cứu. “Tam viết giới”. Chữ “giới”, chính là đã tạo thành sai lầm rồi, lại dùng sự việc này để lấy đó làm gương nhắc nhở quân vương. “Tiên k vị nhiên, vị chi phòng”. Phòng ngừa khi còn chưa xảy ra, đây gọi là “phòng”. “Phát nhi tiến gián”. Sau khi xảy ra rồi thì mau mau khuyên can, đây gọi là “cứu”. “Hành nhi trách chi”. Đã hình thành, tạo thành rồi, dùng sự việc này để phê bình, nhắc nhở, đây gọi là “giới”. “Phòng” là thượng sách, “cứu thứ chi” là trung sách, “giới” là hạ sách. Những sự việc này, luôn là sau khi xảy ra chúng ta mới đến nhắc nhở thì đã muộn rồi. Cho nên tục ngữ thường nói: Không nên thả ngựa sau pháo, vậy không có ích gì. Vậy đương nhiên phải đạt đến luôn có thể đề phòng. Thấy mầm biết cây, thấy rõ nguy cơ, ngăn chặn từ đầu. Việc này cần phải có trí huệ và sự từng trải tương đối, thường hay đọc lịch sử, tăng trưởng kiến thức. Khi chúng ta thâm nhập vào những câu chuyện lịch sử này, đều cảm thấy dường như hiện tại sự việc phát sinh ra thực ra lịch sử mấy nghìn năm qua đều có, đều có thể lấy đó làm gương.

Ví dụ như, chúng ta xem cái này làm sao để dự phòng, ở trong trang 1.156, cũng là ở trong quyển thứ 9, có một thí dụ. Thí dụ này ở rất nhiều Kinh sách đều có, chúng ta cũng tương đối quen thuộc câu chuyện này. Chúng ta xem hàng thứ sáu đã nói, chính là ví dụ thực tế về việc đề phòng cẩn thận. Câu chuyện, “Thuần Vu Khôn đến nhà hàng xóm”. Thuần Vu Khôn tiên sinh đi đến nhà một vị hàng xóm. “Kiến kỳ táo đột chi trực, nhi tích tân tại bàng”. Nhìn thấy bếp lò nhà hàng xóm có cái ống khói quá thẳng, không có uốn cong khúc nào, hơn nữa những bó củi và đồ nhóm lửa lại để ở ngay bên cạnh, ông nhìn thấy tình trạng như vậy. “Viết thử thả hữu hỏa tai”. Như vậy thì rất dễ có thể xảy ra nạn cháy. Bởi vì ống khói thẳng, lửa mà cháy mạnh có lúc sẽ bắn ra những tàn lửa, vừa bắn ra mà củi lại nằm ở bên cạnh thì rất dễ bắt lửa cháy lên. Nếu như làm ống khói cong, những tàn lửa vừa đến chỗ cong thì bị va phải, sau khi va phải thì cũng không bị bắn ra ngoài. Nghe nói ống khói cong còn có thêm lợi ích, đó là trời mưa cũng sẽ không ướt vào trong lò. Cho nên, người xưa khi xây dựng những thứ gì đều là có đạo lý của nó. Bởi vì ông có sự phán đoán như vậy, “tức giáo sử canh vi khúc đột nhi đồ viễn kỳ tân”. Liền mau khuyên hàng xóm làm ống khói cong, sau đó củi khô dọn đi ra xa một chút thì sẽ không dễ gây nạn cháy. “Táo gia bất thính”. Người hàng xóm không chịu nghe lời của ông. “Hậu tai hỏa quả cập tích tân”. Quả nhiên tàn lửa thật sự đã bắn vào đống củi, rồi bắt lửa cháy lên. “Nhi phiền kỳ ốc”. Tạo thành nạn cháy. “Lân lý bính cứu khiết”. Hàng xóm láng giềng đều cùng đến dập lửa. “Cập diệt chỉ nhi hanh dương cụ tửu, dĩ lão tạ cứu hỏa giả, khúc đột viễn tân, cố bất khẳng hồ thuần vu khôn ẩm phạn”. Nghĩa là sau khi đã dập tắt được lửa rồi, người chủ nhà rất cảm kích những người đã tham gia dập lửa, liền cho làm tiệc rượu, làm món ăn ngon để thăm hỏi họ. Ngược lại, ông Thuần Vu Khôn là người đã khuyên ông sửa ống khói và dời củi ra xa thì ông không mời đến ăn. Cái tâm thái này rất đáng nói. Rõ ràng người ta đã cảnh báo, đều nói đúng, bây giờ đã xảy ra rồi, anh không những không cảm tạ người ta, ngay cả gọi người ta đến ăn cơm cũng không. Cho nên con người có lúc cái gì đã hại mình vậy? Chính là cái sĩ diện. Người ta nói đúng rồi, mình mất mặt quá, ngược lại có lúc còn mặc kệ người ta.

Ví dụ như ở trong đoàn thể, các đồng nghiệp đã sớm cảnh báo bạn, sau đó thật sự là đã xảy ra. Bạn không những không cảm ơn người ta đã nhắc nhở, nhìn thấy họ thì né tránh đi. Cho nên tu thân mà không buông bỏ sĩ diện, nhất định sẽ không nhận được sự hộ niệm khuyến cáo của người ở bên cạnh, nhất định là trí huệ sẽ rất khó tăng trưởng. Cho nên con người tương đối có trí huệ thì đã quan sát được, nói rằng, “trí giả cơ chi vân”. Người có trí thì sẽ châm chọc. Đương nhiên việc châm chọc này cũng là vì muốn họ tốt hơn, nhắc nhở họ. “Giáo nhân khúc đột viễn tân, cố vô ân trạch”. Người ta dạy bạn “trở bếp dời củi”, xem ra dường như đối với bạn mà nói không có cái ơn trực tiếp nào, để rồi “sứt đầu mẻ tráng mà đi cầu cứu người ta, làm đến nỗi mặt mày lem luốc. “Phản vi thượng khách”. Bạn còn phải coi người ta như thượng khách. Sự đối đãi như vậy, “cái thương kỳ tiện bổn nhi quý mạc. Ông liền cảm thán. Đều là con người đã xem nhẹ cái “gốc” của việc làm là nằm ở đâu. Cái gốc chính là việc dự phòng, chứ không phải xảy ra rồi thì ở đó cứu chữa, ở đó cứu thì thật sự cũng đã cháy hết không ít đồ đạc rồi. Ngược lại xem trọng việc xử lý sau khi xảy ra vấn đề, ngược lại cảm thấy những người cứu chữa đặc biệt có công lao, đây là chỗ nhìn sự việc còn cạn cợt, chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt. Cho nên, cũng là một điều cảm thán con người hiện tại gốc – ngọn không phân biệt rõ ràng. “Khỉ phu độc đột tân khả dĩ trừ hại tai”. Chính là nói đến, việc đổi bếp dời củi không chỉ có thể phòng trừ được nạn cháy. Đem đạo lý này mở rộng ra trong các mặt đời sống, vào trị nước, trị bệnh đều như vậy. Cho nên, “nhi nhân bệnh quốc loạn, diệc giai như tư, thị cố lương y y kỳ vị phát, nhi minh quân tuyệt kỳ bổn mưu, hậu thế đa tổn ư đỗ sái mạc manh, nhi cần ư công kích dĩ thành, mưu thần hy thưởng, nhi đấu sĩ thường vinh”. Ở đây nói đến, lương y là phải nên phòng ngừa khi chưa bệnh, bệnh khi vẫn chưa hình thành thì họ phải đem nó ngừa trị hết, phòng ngừa hết. Mà một quân chủ chân thật thánh minh thì phải nên ngăn ngừa động loạn ngay từ trên căn bản. Động loạn cần hình thành trong một khoảng thời gian rất dài, khi nhân tâm còn chưa bị sai lệch đi nhiều, bạn hãy mau đem họ giáo dục lại cho tốt, vậy thì sao có động loạn được. Cho nên hậu thế ngược lại đã lơ là sự quan trọng của việc ngăn ngừa từ đầu, sau đó lại cảm thấy rằng họa hoạn đã hình thành, người nào dẫn binh đi dẹp loạn thì tướng quân đó công lao lớn nhất, ngược lại sự việc trước đó đã được nêu ra bởi những thần tử về việc ngăn ngừa từ đầu hết thảy đều không được phần thưởng nào cả. Cho nên nói: “Mưu thần hy thưởng, đấu sĩ thường vinh”, “do bỉ nhân đãi thất sự chi trọng khinh”. Con người hiện tại xem xét sự việc, đầu đuôi nặng nhẹ họ đều nhìn không rõ. “Sát Thuần Vu Khôn chi dự ngôn khả di vô bất thông”. Từ ví dụ này, chúng ta quan sát thế gian này, các ngành các nghề, chủng chủng sự tướng đều phải hiểu được đến chỗ ngăn ngừa ngay từ đầu, đó mới là xử lý sự tình chỗ thấy và phương pháp tốt hơn. “Thử kiến vi chi loại dã”. Đây là có thể thấy mầm biết cây, là một ví dụ rất tốt về việc đề phòng ngăn ngừa. Ở đây cũng vừa mới nói đến, “lương y y kỳ vị phát”.

Vào thời đại chiến quốc cũng có một ví dụ thực tế như vầy, nói một danh y rất nổi tiếng tên là Biển Thước. Vào lúc đó Ngụy Văn Hầu thỉnh giáo Biển Thước, hỏi rằng “nhà của ông có ba anh em đều làm thầy thuốc, vậy y thuật của ai cao hơn”. Biển Thước vào lúc đó cũng đã có chút tiếng tăm rồi, nhưng ông nói ba anh em ông thì anh cả y thuật cao nhất. Vì sao vậy? Anh cả của ông khi bệnh vẫn còn chưa hình thành, thì đã ngăn ngừa trị khỏi, vì thế mà danh tiếng của anh không ra khỏi nhà của bệnh nhân. Còn người anh kế của ông khi bệnh tình vừa mới có một chút triệu chứng, thì anh đã mau mau trị dứt bệnh rồi, vì thế mà danh tiếng của ông cũng không ra khỏi được cái làng của mình. Còn Biển Thước thì tự mình trị đều là căn bệnh đã trở nên trầm trọng rồi, có lúc còn phải phẫu thuật, phải bốc thuốc, thuốc chưa tới ba phần độc hại. Kỳ thực, lúc đó lại xử lý thì đã xem như là tương đối trễ rồi, muộn màng rồi, bởi vì bệnh đều là rất nghiêm trọng. Sau đó tôi trị liệu có được cải thiện, cải thiện rất rõ ràng, cho nên danh tiếng của tôi trong số rất nhiều nước chư hầu đều biết đến. Từ đoạn này của Biển Thước, chúng ta có thể cảm nhận được, kỳ thực phương pháp cao nhất có lẽ là phải biết ngăn chặn từ đầu. Một người thần tử, sự khuyên can của họ đều có thể đưa ra lúc sự việc còn chưa xảy ra, khi còn chưa có nghiêm trọng thì đã đưa ra lời khuyên tốt cho người lãnh đạo. Đây đều là phòng ngừa trước khi nó xảy ra, lợi ích của nó đối với đoàn thể và quốc gia là tương đối tương đối lớn. Chúng ta kỳ vọng chính mình cũng có thể làm được thần tử như vậy, cũng cần phải tích lũy lại từ sự từng trải và trí huệ của chính mình. Hôm nay xin giao lưu với mọi người đến đây! Xin cảm ơn mọi người!

HẾT TẬP 56 – Xin xem tiếp tập 57 – Quần Thư Trị Yếu 360