QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 GIẢNG GIẢI – TẬP 57

Chủ giảng: Thầy giáo, Tiến sĩ Thái Lễ Húc
Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ
Thuyết minh: Hạnh Quang
Download toàn bộ MP3



Quần thư trị yếu 360 – Tập 57

TU THÂN – TỀ GIA – TRỊ QUỐC – BÌNH THIÊN HẠ

Kính chào các vị khách quý, các vị trưởng bối, các vị bằng hữu! Xin chào mọi người!

Hôm nay chúng tôi rất vui mừng, cũng như rất hoan hỷ có sự tham dự của các vị đến từ tỉnh Hà Nam, là các vị lãnh đạo của Hội nghiên cứu văn hóa ở quê hương của Hoàng đế. Chúng tôi vừa nhắc đến quê cũ của Hoàng đế thì đã dấy khởi lên một tấm lòng biết ơn. Hoàng đế là ông tổ của dân tộc Trung Hoa, người Trung Hoa là con cháu của Viêm Đế và Hoàng Đế, mà Hội nghiên cứu của chúng ta hiện đang ở quê hương của Hoàng Đế, tận tâm tận lực hoằng dương văn hóa truyền thống, khiến cho người Hoa trên toàn thế giới đều cảm thấy hoan hỷ yên vui, thậm chí là cảm kích. Văn hóa của Hoàng đế hưng thịnh trở lại, thì nhất định sẽ lợi ích cho người Hoa trên khắp thế giới. Bởi vì chúng ta thấy rất rõ một người, một gia đình, thậm chí là vận mạng của cả xã hội quốc gia, quyết định là ở tư tưởng quan niệm chính xác của họ. Chúng ta có thể truyền thừa tư tưởng chính xác về việc tu thân – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ của cổ Thánh tiên vương, vận mệnh của con người thay đổi rồi, vận mệnh của gia đình, của xã hội cũng theo đó mà thay đổi trở lại, thật sự là như câu nói “nhân bất học bất tri lý”. Làm một người cha như thế nào, làm một người mẹ như thế nào, làm một người lãnh đạo như thế nào, làm một thần tử như thế nào, chúng ta diễn xuất một vai trò nào đó trong cuộc đời đều có cái đại đạo lý của nó, đều có chính đạo của nó. Nhưng giả như chúng ta không hiểu rõ thì có thể tâm thái của chúng ta, lời nói việc làm đều đi ngược lại với chính đạo làm người mà không hề tự biết.

Ví dụ như chúng ta thân làm con cái thì phải nên hiếu kính cha mẹ, đây là đúng. Nhưng hiện tại nếu như thế hệ sau không được học, vậy thì hiện tượng điên đảo sẽ rất nhiều. Ngày trước đều là chúng ta đi mời cha mẹ ông bà đến ăn cơm, đây gọi là đạo làm con. Hiện nay lại trở thành, ông bà đi gọi con cháu về ăn cơm. Cha mẹ đi gọi con cái về ăn cơm còn phải đi tìm đi kiếm chúng cả buổi, còn phải năn nỉ chúng đi ăn cơm. Cho nên các vị xem, chỉ mới năm – ba mươi năm ngắn ngủi, chính đạo làm con không được truyền thừa, tất cả những hiện tượng điên đảo đã liên tiếp xuất hiện.

Văn hóa truyền thống của chúng ta đặc biệt coi trọng uống nước nhớ nguồn, tri ân – báo ân. Cũng như tôi nhìn thấy các bằng hữu ở Hà Nam đặc biệt thân thiết, vì sao vậy? Chúng tôi ngày trước đi học, Hà Nam là cái nôi của văn hóa dân tộc Trung Hoa, dường như rất nhiều họ tộc có tổ tiên của họ là người Hà Nam, về sau đã di chuyển đến những nơi khác. Cũng như người Mân Nam, xin hỏi ai là người Mân Nam xin giơ ta? Mân Nam chính là người Phúc Kiến, cũng không ít phải không? Xin cảm ơn, xin bỏ tay xuống. Vậy tôi xin hỏi mọi người một vấn đề, xin hỏi các vị có biết người Mân Nam từ đâu đến hay không? Cũng là từ Hà Nam đến. Giống như tôi họ Thái, là tên của Huyện Thượng Thái tại Hà Nam; người Mân Nam còn gọi là người Hà Lạc, Hà Lạc Lang. Một vùng Hoàng Hà Lạc Thủy chính là do tổ tiên của người Mân Nam đã khai hoang, cho nên nói trắng ra chúng tôi là người Hà Nam. Bao gồm cả ngôn ngữ của thời nhà Đường phải dùng tiếng Mân Nam thì mới đọc được, phải thêm thanh điệu gọi là, “bình thượng khứ nhập”. Thơ Đường mà dùng tiếng Bắc Kinh thì sẽ không đọc diễn cảm được, thêm thanh điệu gọi là, âm đọc nhanh và gộp”. Xin hỏi mọi người, tiếng Bắc Kinh thì đọc “nhanh và gộp” như thế không? “Tôi là người Bắc Kinh”, không có cách nào nói “nhanh và gọn” được, không ngắn hơn được nữa. Tiếng Mân Nam thì nói: “Tôi người Bắc”. Chữ “bắc” này, chính là chữ rút gọn. Bạn xem thấy tuyết rơi, đọc là “tuyết trắng”, không đọc ngắn được. Chữ “tuyết trắng” này, khi đọc bằng tiếng Mân Nam thì đọc ngắn được. Cho nên, nếu bạn muốn đọc thơ Đường thì bạn hãy dùng tiếng Mân Nam để đọc, vậy thì giọng điệu sẽ rất hay. Hơn nữa nó còn có gieo vần, bạn cứ đọc diễn cảm thì giống như là đang hát vậy. “Bạch nhật y sơn tận”. Nếu tiếng Mân Nam thì diễn cảm hơn…, có phải không? Cho nên, văn hóa càng lâu đời thì sự lâu đời đó sẽ hàm chứa được trí huệ càng sâu của tổ tiên bên trong. Vì vậy, bạn là người Mân Nam thì không thể không biết nói tiếng Mân Nam, bạn phải tiếp nối văn hóa của tổ tiên.

Chúng ta phải lặng tâm soi xét, uống nước nhớ nguồn. Bạn xem trong một gia đình, người được tôn trọng nhất là ai? Đương nhiên là người lớn tuổi, đương nhiên là ông bà nội ngoại rồi. Không có ông bà nội ngoại thì sao có cha mẹ, không có cha mẹ thì sao có con cái. Đây là đạo lý hiển nhiên bất di bất dịch. Cho nên đáng nhận được sự cảm ân và tôn trọng chính là người già, đó là căn nguyên ruộng phước của chúng ta. Bạn báo ơn thì mới có phước, người vong ơn phụ nghĩa thì tuyệt đối không thể có phước báo được. Vì sao lại nói: “Nhà có người già như là có vật báu” vậy? Vì đó là ruộng phước ở trong nhà để xem con cháu chúng ta đời đời có phước báo hay không? Cho nên, có được người lớn tuổi thì sự hiếu đạo của chúng ta mới có thể áp dụng, kế thừa được cụ thể.

Hiện nay trong gia đình nhỏ thì dạy hiếu không dễ chút nào, phụ huynh lại không có quan niệm này. Cha mẹ cứ quây quanh đứa con như vậy, sau cùng lại dạy nó trở thành một tiểu hoàng đế, tiểu hoàng thái hậu, vậy thì càng không dễ hầu hạ rồi. Cho nên các vị xem, loại cảm ân, uống nước nhớ nguồn đó thể hiện ở chỗ nào? Trong nhà có đồ ăn nhất định trước tiên phải mời người già trước, muốn đi đâu trước tiên hãy đi hỏi ý kiến của người già, trong nhà nơi nào dễ chịu nhất phải để cho người già ở. Các vị xem, hiện tại muốn ăn cái gì thì phải hỏi ai vậy, muốn chọn phòng phải hỏi ai trước? Chỗ nào cũng có sự điên đảo hết rồi. Bởi vì: “Nhân bất học bất tri lý”, đã phiền phức rồi. Xin hỏi mọi người, mở tiệc sinh nhật là người già hay là người trẻ? Vì sao phải chúc thọ cho người già? Vì niệm niệm không quên ân đức của họ đối với cả gia tộc. Họ có thể sống lâu là việc đáng vui mừng nhất của gia tộc, là phước báo lớn nhất. Hiện tại thì không phải, đến ngày sinh nhật của người già mặc kệ, nhưng lại đi lo tiệc cho đứa con một – hai tuổi. Học tiểu học thì mở tiệc, còn đi Mc Donald’s, còn chỉ định phải đi KFC. Chúng đối với xã hội và đối với gia đình đều chưa có cống hiến gì, lại hưởng cái phước lớn như vậy. Từ nhỏ đã hưởng phước thì đến lúc trung niên về già sẽ không còn phước nữa. Chúng ta phải nên biết, con người một khi hưởng phước thì sẽ lười nhác, con người một khi hưởng phước thì cảm thấy đáng được hưởng. Các vị có nhìn thấy qua các em nhỏ nào càng hưởng phước lại càng cảm thấy: “Cha mẹ của tôi quá vĩ đại, tôi nhất định phải báo đáp ơn của họ”. Không phải vậy, càng hưởng phước hưởng đến sau cùng, cơm đưa tới miệng, nước dâng tận tay. Cha mẹ mà mua nhà mới thì chúng ở đó tính, “căn này là của tôi, căn kia là của tôi”. Ở trong phước rất dễ đọa lạc. Cho nên nếu con người không hiểu rõ việc tri ân – báo ân, không hiểu rõ tôn kính người già, không hiểu được trong việc dạy dỗ con cái quan trọng nhất là đem cái thiện tâm, thiện căn quan trọng nhất trong cuộc đời để trồng xuống. Gốc rễ lớn nhất của thiện căn là ở đâu vậy? Bạn có gốc thì mới có sinh mạng, thiện mới phát được, chính là “hiếu” và “kính”. Hiếu thuận người già, hiếu thuận với cha mẹ, cung kính với trưởng bối, tiếp đến lại cung kính đối với sư trưởng. Một người không có hiếu thuận, không có cung kính, cuộc đời này của họ quyết định không có phước báo.

Lão tổ tông của chúng ta đã dạy: “Quân tử vụ bổn”, nhất định phải tìm gốc rễ. Gốc rễ tìm được rồi thì, “bổn lập nhi đạo sinh”, học vấn của chúng ta mới có gốc, gia đạo chúng ta mới có gốc, sự nghiệp của chúng ta mới có gốc. Bạn không tìm được cái gốc thì cũng như hoa cắm trong bình vậy, cuối cùng nhất định sẽ bị khô héo. Bởi vì nó không có gốc, cho nên mọi người hãy xem, hiện tại vì thiếu cái gốc cho nên giàu không được mấy đời. Ba đời à, vậy thì các vị không theo kịp thời đại rồi. Phải có sự quan sát khoa học phát triển, phải thực sự cầu thị, khách quan phân tích. Hiện tại không phải giàu không quá ba đời nữa, mà một đời cũng không qua nổi, nói khách quan một chút thì mười năm cũng qua không nổi.

Các vị xem, hiện tại những doanh nghiệp vừa và nhỏ thời gian tồn tại của họ bình quân là 2,9 năm. Con số thống kê này hình như vào bảy – tám năm trước. Xin hỏi mọi người, 2,9 năm này bây giờ nó càng tăng lên hay càng giảm xuống vậy? Ồ các vị làm sao biết được vậy, dựa vào đâu suy nghĩ để biết được? Dùng tâm để thể hội thì biết được, vì sao vậy? Khi con người chỉ nhìn thấy cái lợi ngắn ngủi trước mắt thì gia đạo của họ, sự nghiệp của họ nhất định sẽ càng ngắn ngủi, đây là tất nhiên. “Người không lo xa, tất phải ưu phiền trước mắt”. Người làm cha mẹ mà chỉ nhìn thấy được, “các con lần thi cử này phải có kết quả tốt cho ta”, thì họ có thể đã đem đến cho con cái kiến thức bao xa cho cuộc đời vậy? Khi họ chỉ nhìn vào thành tích thi lần này, xin hỏi khi truyền lại cho con cái thái độ nhân sinh như thế nào? “Dù sao lần này thi tốt là được rồi”. Lần này mà thi tốt thì mọi việc đã giải quyết xong, có phải như vậy không? Vẫn là người làm cha, làm mẹ, làm thầy cô nên biết, chỉ cần khởi dậy tâm hiếu, tâm trách nhiệm của chúng, thì học lực của chúng, sự nghiệp – gia nghiệp của chúng sau này bạn không cần phải lo nghĩ nữa, có thể nhìn thấy được cả đời chúng.

Phạm Trọng Yêm có thể nhìn được bao lâu vậy? Nhìn thấy được con cháu nghìn năm về sau. Đây không phải là tôi nói, Phạm Công khi còn tại thế đã nói như vậy rồi. Ở trước cửa nhà của ông có trồng hai cây quân tử, cây quân tử rất là thú vị. Các vị xem, hiện tại chúng ta trồng cây gì vậy? Là trồng cây có trái mình thích ăn nhất. Chỉ có thể nghĩ đến điều gì vậy? Là để thỏa lòng dục vọng, làm sao có thể suy nghĩ đến con cháu nghìn đời sau được. Vì sao lại trồng cây tùng? Khổng Tử đã nói trong “Luận Ngữ”: “Tùng Bách vẫn xanh tốt vào mùa đông”. “Tuế hàn, nhiên hậu tri tùng bách chi hậu điêu”. Cây Tùng là biểu thị phong thái khí phách người quân tử, cho nên trồng hai loại cây đó là hy vọng đời sau có thể noi theo đức phong của người quân tử. Hơn nữa, ông nói bóng mát của hai cây này có thể vượt xa hơn 1.000 năm sau, “kỳ dữ thiên niên”. Các vị bằng hữu, các vị có nghĩ đến, “đức hạnh của cuộc đời mình sẽ rợp bóng đến con cháu nghìn năm sau”, hay vẫn là mỗi ngày suy nghĩ mình trưa nay nên ăn gì cho ngon? Các vị xem, chúng ta có thể suy nghĩ xa được bao nhiêu? Chúng ta có tầm nhìn 1.000 năm, thì con cái chúng ta sẽ đứng trên vai của chúng ta mà nhìn được xa hơn.

Các vị xem, người xưa những lời này dụng tâm mà thể hội, những nghĩa lý trong đó sâu không thấy đáy, rộng không ngằn mé. “Quân tử vụ bổn, bổn lập nhi đạo sinh”. Vào lúc nào thì gọi là “bổn”? Lúc nào chúng ta cũng đều đi trên căn bản của việc làm người, mọi lúc mọi nơi.

Ví dụ chúng ta hôm nay cùng nhau đến học tập “Quần Thư Trị Yếu”, “gốc” của học vấn là gì? Việc này chúng ta phải tìm ra. Chúng ta có thể thâm nhập bộ sách này, đầu tiên hết là mang một tấm lòng biết ơn vô bờ. “Kinh”, đây là Kinh điển từ mấy nghìn năm trước Thánh nhân biểu diễn, đó là “sử” trong lịch sử, và còn cả “tử” của các nhà đại học vấn đã lưu danh sử xanh. “Bách Gia Chư Tử” chúng ta đã từng học qua rồi; Quản Tử, Yên Tử, Hàn Phi Tử đều là những nhà đại học vấn. May mà có Thái Tông hoàng đế hạ lệnh để cho Ngụy Trưng đại nhân và các đại trí giả của triều Đường cùng nhau biên soạn mới được bộ sách này. Mọi người không nên thấy bộ sách này nói: “Bộ sách này xem ra có lẽ vào khoản 100 đồng Malaysia, hoặc có lẽ hơn 200 Đài tệ”. Bạn không thể chỉ nhìn vào cái này. Những áng văn chương trong đây đem lại lợi ích cho bạn, vậy nó là bảo vật vô giá.

Xin nói với mọi người, bộ sách này từ trong 89.000 quyển tuyển chọn ra được năm mươi quyển. Mọi người hãy tưởng tượng, trước mặt bạn có 89.000 quyển sách, nếu thấy như vậy thì đã nhức đầu rồi, sao chọn nổi. 14.000 bộ sách lựa chọn ra 65 bộ, biên soạn thành bộ sách này.

Kỳ thực mọi người xem, ngày trước việc in ấn chưa phát triển, muốn học cái này thì làm sao để học? Chép lại, mượn sách về rồi chép lại từng chữ một. Hiện nay không cần chép nữa, toàn bộ đều in ấn đẹp, nhưng học vấn của ai hơn? Mọi người đều nói: “Khoa học phát triển, thật tốt quá!”. Khoa học phát triển, nhưng tâm con người nếu như không cảm ân, không trân trọng, thì khoa học có phát triển hơn cũng vô dụng. Chúng ta ngày nay khoa học quá phát triển, người ta ngày trước mượn sách ba ngày thì phải trả, dốc sức xem, dốc sức chép lại. Chúng ta hiện nay thì: “Dù sao tôi cũng có hai bộ – ba bộ, để ngày mai rồi xem”. Sau đó thì: “Ngày mai rồi lại ngày mai, ngày mai cho đến bao giờ. Đời này cứ đợi ngày mai, vạn việc đều thành luống công”. Một năm trôi qua rồi, bộ sách đó bụi đã bám đầy mà vẫn cứ để nằm ở đó. Không phải chúng ta, “như như bất động”, mà đã biến bộ sách đó thành, “như như bất động” rồi.

Cho nên mọi người vào thời đại này phải bình tâm, căn bản ở tại tâm địa, không phải ở khoa học vật chất bên ngoài. Dù có tiến bộ bao nhiêu, gốc là ở đâu? Tất cả vật chất, tất cả tài năng, đều là vì đức hạnh, vì thiện tâm sở dụng này. Cái tâm này là chủ soái. “Đức giả, tài chi soái dã, tài dã, đức chi tư dã”. Nhưng chúng ta hiện tại “gốc” đã không còn xem trọng, đều xem trọng cành nhánh. “Mau mau, học lực là quan trọng nhất”. Chúng không có đức hạnh mà chúng lại có học lực cao, vậy thì không phải sẽ dùng những kiến thức đó để đi làm chuyện xấu hay sao?

Hiện tại có rất nhiều tập đoàn lừa gạt, không phải tốt nghiệp nghiên cứu sinh thì không thể làm được công việc đó. Bởi vì đó là khoa học kỹ thuật cao, tội phạm có thủ pháp thì mới làm được. Cho nên, những hiện tượng này đều đang nhắc nhở chúng ta đức hạnh quan trọng.

Tôi có một lần ở trên xe, anh tài xế taxi đã nói với tôi, “đức hạnh thật quá quan trọng”. Tôi vừa nghe thì mắt cũng sáng lên. Ngay cả tài xế taxi cũng biết đức hạnh rất quan trọng, đây là việc tốt. Anh nói vì sao? “Bởi vì những vị là nhân vật chính trị, học hành cao đến như vậy, thế mà lại đánh người mắng người nơi công cộng như vậy, dạy hỏng cho thế hệ sau mất rồi. Vì vậy việc giáo dục cho thế hệ sau thật quá quan trọng, phải dạy đức, không thể chỉ xem trọng tài năng và việc học cao. Cho nên sau khi tôi có được sự thể hội này rồi, ngay buổi tối hôm đó tôi liền đi đến nhà sách để mua sách. Tìm sách giáo dục gia đình nào, quyển giáo huấn gia đình nào tốt nhất để có thể dạy dỗ con cái thì tôi liền mua về”. Tôi hỏi: “Vậy anh đã mua được quyển sách gì rồi?”. Anh nói là: “Đệ Tử Quy”. Xin nói với mọi người, giáo dục gia đình ít nhất cũng mấy trăm quyển, các vị xem quyển “Dưỡng Chánh Di Quy” hội tập lại dày như vậy, toàn bộ trong đó đều là giáo dục gia đình, sao anh lại may mắn đến như vậy, vừa mua thì mua được “Đệ Tử Quy”. Các vị xem, có thể là nhờ tổ tiên của anh ấy đang âm thầm bảo hộ cho anh, “ồ, người cha này đang muốn giáo dục tốt cho con cái đây!”. Tổ tiên của anh ở trên trời linh thiêng sẽ rơi lệ, sẽ cảm động, phúc phần của tổ tiên sẽ mau chóng phủ bóng cho anh.

Những câu chuyện ví dụ như vậy, bất kỳ sự việc nào xảy ra trong xã hội, các ngành các nghề, bất luận là mặt tích cực hay tiêu cực, đều nói với chúng ta cái gì là nhân sinh, cái gì là gốc của việc làm người, cái gì là cành nhánh. Các vị nói xem, “đạo” là ở đâu? Nơi nơi đều chú ý và học hỏi. Nơi nơi chú ý thì đều có thể ngộ đạo. Chúng ta vừa nói, chúng ta học cái gốc của “Quần Thư Trị Yếu” ở đâu? Tâm cảm ân ở đâu? Tâm thành kính, chân thành cung kính. “Một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích”.

Quy Hữu Quang tiên sinh đã nói, Quảng Đông có một người họ Trần không biết một chữ nào, nhưng mà đối với “Tứ Thư” lại vô cùng cung kính, mỗi ngày đều bái lạy, đột nhiên có một ngày lễ bái mà có thể đọc được chữ. Quy Hữu Quang tiên sinh là một đại nho gia thời đại Minh Thanh, ông không có nói bừa. Vị tiên sinh họ Trần này vì sao không biết chữ mà sau cùng lại có thể đọc được chữ, có thể đọc được Kinh điển? Không có gì khác ngoài “thành kính”. Cho nên “Hiếu Kinh” nói với chúng ta: “Hiếu để chi chí”. Tâm hiếu kính của một người, tâm cảm ân đạt đến cực điểm thì, thông suốt thần minh, quang khắp tứ hải, không gì không thông”. Ông vốn có “Minh đức bổn thiện”, nên nó đã thấu ra ngoài, ánh sáng trí huệ thấu ra bên ngoài, ông liền hiểu. Đây không phải chỉ có một ví dụ.

Người Đông Bắc đều biết những năm đầu thời kỳ dân quốc, có một người nọ tên là Vương Thiện Nhân, ông làm trường nữ học đến mấy trăm căn, sự ảnh hưởng của ông đối với thế hệ sau rất sâu xa. Tôi sâu sắc thể hội được là vào lúc nào vậy? Là vào tháng năm tôi đi đến trường Trung học Tùng Hoa Giang ở Cát Lâm, gặp được mẹ của thầy hiệu trưởng Lữ Kiệt. Bà là người đã từng tiếp nhận qua sự giáo dục Nữ học của Vương Thiện Nhân trong vòng sáu tháng, gọi là nữ giáo. Chỉ sáu tháng mà ảnh hưởng sâu sắc, cho nên người mẹ của thầy hiệu trưởng cả đời không nổi giận. Thầy hiệu trưởng Lữ Kiệt năm nay khoảng năm mươi tuổi, ông chứng thực năm mươi năm nay mẹ của ông chưa từng nổi giận lần nào, hơn nữa cũng không có bệnh lần nào. Cho nên, bệnh căn bản của nó vẫn là từ tâm bắt đầu. Lửa giận mà nổi lên, tập khí bên trong vừa nổi lên, thì biến thành độc. Bên ngoài lại gặp phải một số người, sự và cảnh duyên, nổi giận lại càng lớn hơn, như vậy thì bị bệnh. Chúng ta xem, bà chỉ nhận được sự giáo dục trong sáu tháng, vì thế những học vấn mà lão tổ tông truyền thừa lại thật sự đáng quý. Chỉ sáu tháng mà thành tựu được đức hạnh của một con người, điều đáng nói là ở đâu? Một người phụ nữ có đức hạnh, thì năm người con của bà đều thành tựu, trong đó một người con là hiệu trưởng trường Tùng Hoa Giang ở Cát Lâm. Xin hỏi mọi người, người phụ nữ này đã ảnh hưởng đến vận mạng của bao nhiêu người? Có ai đem máy tính thì hãy tính thử xem, có tính ra được không? Tôi xin nói không thể tính được, vì sao vậy? Bởi vì ảnh hưởng thiện lành này vẫn luôn phát triển. Chỉ tính tham khảo học tập kinh nghiệm ở trường Trung học Tùng Hoa Giang Cát Lâm thì đã vượt hơn mấy trăm lượt. Đích thân đi đến trường của họ, tôi nghe nói từ Quảng Đông chạy xe phải chạy hết hai ngày mới đến được ngôi trường đó để học tập. Các nơi khác như Tân Cương, Hải Khẩu, Hải Nam, không cần phải nói đến, cả đất nước từ đông – tây – nam – bắc, không biết bao nhiêu trường học đều đã đến. Sự cống hiến này ghi công đầu cho ai vậy? Là cho người mẹ của thầy, không có người mẹ như vậy thì có thể dạy ra được một người hiệu trưởng có sứ mạng dân tộc như vậy hay sao. Mọi người đã khai ngộ hay chưa vậy?

An nguy của thiên hạ thì người phụ nữ nắm trong tay hơn một nữa. Không có người mẹ tốt thì ở đâu mà có được người tốt, có người thiện, có Thánh Hiền được chứ. Cho nên Lão tổ tông chúng ta đã truyền lại, đối với người vợ thì gọi là “thái thái”, đối với người phụ nữ đã thành gia thì gọi là “thái thái”. Đây không phải là tùy tiện mà gọi, đây là có điển tích của nó.

Nhà Chu xuất hiện ba nữ thánh nhân là: Thái Khương, Thái Nhậm và Thái Tự. Kết quả, dưới sự giáo dục của ba nữ thánh nhân này mà nhà Chu bốn đời đều xuất hiện Thánh nhân. Chúng ta quen thuộc nhất là Vương Quý, cha của Chu Văn Vương, anh của ông là Thái Bá và Trung Dung. Những người này Khổng Tử đều tán thán ở trong “Luận Ngữ”. “Là chí thánh, đáng khâm phục”. “Bảo ta tán thán đức hạnh của họ thì ta thật sự không biết phải dùng từ ngữ gì để diễn tả cho được”. Vì sao vậy? Họ làm anh mà đem quốc gia nhường lại cho em của mình. Ngay cả quốc gia mà còn nhường lại cho em trai, vậy thì còn có thứ gì để đi tranh giành với em đây? Mọi người hãy xem lịch sử của cả thế giới này, có quốc vương của quốc gia nào mà có thể làm quốc vương nhưng lại đem nhường lại cho em trai của họ hay không, các vị thử đi điều tra thử xem. Cho nên tổ tiên của chúng ta đều là Thánh nhân, thảo nào chúng ta đã truyền lại được 5.000 năm, chỉ còn lại mình chúng ta.

Xét về dân tộc, văn hóa, huyết thống trên toàn thế giới vẫn còn tiếp tục truyền thừa, thì chỉ còn lại chúng ta, những nền văn minh khác đều đã gián đoạn rồi. Chỉ có những nhà khảo cổ mới có thể nghiên cứu được nền văn hóa của họ ngày trước như thế nào. Không có đức của tổ tiên để lại, thì chúng ta cũng không thể là dân tộc duy nhất của thế giới này còn có thể truyền thừa lại được.

Mọi người xem, phụ nữ rất quan trọng. Cho nên gọi họ là, “thái thái”, chính là rất cung kính với họ. Xưng hô với họ là, “nữ thánh nhân, xin chào người”. Người là Thánh nhân, người là Thánh nhân của thế hệ sau. Gia đình chúng ta, thế giới của chúng ta có hy vọng, đất nước dân tộc có hy vọng.

Mọi người xem, Vương Thiện Nhân đã làm nữ học nhiều như vậy, thành tựu được nhiều người phụ nữ như vậy, nhưng mà Vương Thiện Nhân lại là người không biết chữ. Ông ngoài việc hiếu thuận với cha mẹ, ông cũng tận toàn lực để hiếu thuận với ông nội của mình. Cha của ông không nuôi dưỡng, ông nuôi dưỡng, ông nói “tôi phải tận hiếu đạo, cha tôi không làm được, tôi phải nên viên mãn việc đó”. Cha mẹ có điều còn thiếu sót thì tự mình không phê bình, ngược lại bù đắp sự thiếu xót đó của cha mẹ, đây gọi là “xa thì nghĩ làm sao để xiển dương cái đức tổ tiên, gần thì nghĩ làm sao để chuộc lỗi lầm của cha mẹ”. Kỳ thực, hai – ba thế hệ này của chúng ta có lỗi lầm hay không? Có. Văn hóa sắp bị đứt đoạn, hai – ba thế hệ của chúng ta đều có lỗi, chúng ta phải bù đắp lại lỗi lầm của hai – ba thế hệ gần đây. Cha mẹ không kế thừa, ông bà cũng không kế thừa, thì chúng ta kế thừa để làm giảm nhẹ đi sai xót của hai – ba thế hệ gần đây đã phạm phải. Đây đều là điều chúng ta nên làm. Cha mẹ của bạn chưa đủ hiếu thuận với ông bà nội ngoại, bạn không chỉ không phê bình mà còn phải hiếu thuận với các ông bà đến nỗi cha mẹ phải hổ thẹn, đây mới là tận hiếu. Chúng ta không thể sau khi đã học rồi, trở về nhà lại đi phê bình cha mẹ mình, vậy sai rồi!. Cho nên Vương Thiện Nhân hiếu thuận không chỉ là đối với cha mẹ mình, còn hiếu thuận với ông bà. “Để”, “hiếu để chi chí”, ông đã làm đến cực điểm. Em trai của ông qua đời, không có cách nào chăm sóc con của mình, ông đã cho đón hết con cái của em trai về. Bởi vì vào lúc đó cuộc sống khó khăn, ông đã tận tâm tận lực dạy bảo các cháu. Không chỉ con cái của mình, hơn nữa việc dụng tâm chăm lo cho các cháu còn vượt hơn cả con cái chính mình, sau cùng các cháu của ông cũng đều có thành tựu.

Xin hỏi mọi người, chúng ta hiện nay có làm được hay không? Hiện tại ngay cả anh em mà còn không quan tâm, vậy thì làm sao có thể quan tâm con cái của anh em chứ. Ngay cả cha mẹ còn không hiếu kính, thì nói chi đến ông bà nội ngoại. Nhưng mà các vị xem, tấm lòng tình nghĩa đạo nghĩa đó của ông đã làm triệt để, trong nhân tâm không có một chút tư lợi nào, trí huệ minh đức của ông đều đã hiển hiện ra hết. Cho nên sau cùng có thể giảng “Trung Dung”, giảng Kinh điển, khiến cho tâm thái người khác chuyển biến, trị hết căn bệnh của người khác. Bởi vì tâm của ông vừa thay đổi, toàn bộ tâm tư tình cảm đã tạo ra những thứ đã làm cho kinh mạch trên cơ thể bị chướng ngại dần dần trở nên khai thông. Lý luận này không phức tạp.

Mọi người có từng phiền não một việc nào đó mà phiền đến mức đau cả ngực hay không? Có hay không? Các vị đều không có à? Nếu không, thì chính là mạng của các vị quá tốt, hoặc không thì chính học vấn các vị quá ca. Giặc đến tướng chặn, đã trở thành “việc việc là việc tốt, người người là người tốt”, không có chướng ngại. Nếu không thì sẽ nói, “trời ơi, sao lại gặp nữa rồi, tôi sao mà yếu như vậy, ông trời ơi sao mà bất công với tôi quá vậy, tôi đã từng giúp họ như vậy sao họ lại đối xử tôi như vậy”, càng nghĩ càng phiền. Nhưng nếu đột nhiên vừa chuyển ý niệm, “ồ, đó cũng là việc tốt mà”, tim của bạn dường như đã thông rồi, không buồn rầu nữa, sáng tỏ thông suốt, lập tức ấn đường trên trán bạn sẽ phát ánh sáng. Các vị vừa chuyển chánh niệm mà có kinh nghiệm này thì mới đúng.

“Thư Kinh” có nói: “Thánh và điên cách nhau một niệm”, chuyển trở lại rất quan trọng. Cho nên xin nói với mọi người, những giáo huấn ở trong Kinh điển không phải là lý luận, ai làm được thì cuộc đời người đó liền ấn chứng. “Hiếu để chi chí thông ư thần minh, quang ư tứ hải”.

Các vị xem, khí phách của ông đã ảnh hưởng biết bao nhiêu người ở vùng đông bắc, thậm chí là chúng ta hiện tại xem sách của ông đều có được lợi ích. “Sáng khắp bốn biển, không gì không thông”. Chúng ta hôm nay nói đến đạo của thần tôi, đạo bề tôi của Vương Thiện Nhân, cũng làm được một cách triệt để. Ông làm việc cho người ta mà xưa giờ chưa bao giờ nói, “ông chủ, ông phải trả tôi bao nhiêu tiền”, xưa nay không có nói đến lợi. Người chủ thuê ông thì ông tận tâm tận lực làm, làm đến mức ông chủ cũng vô cùng bội phục. Sau cùng ông làm giáo dục, đều là nhờ người chủ ngày trước giúp đỡ ông. Hơn nữa, không chỉ tự mình tận tâm tận lực, những người bạn, người làm công cùng với ông có những tư tưởng gì không đúng thì ông đều nhanh chóng dẫn dắt họ, đoàn kết tất cả những người công nhân này. Việc này đối với ông chủ của ông, người chủ của ông, đều sự cống hiến quan trọng nhất. Đó là tận trung. Ông vì sao lại có thành tựu cao như vậy? Việc học tập của ông thật sự là chí thành cung kính đến cực điểm. Ông học một vị là Dương Giác Ai tiên sinh, vì đạo nghĩa mà phấn đấu quên mình, cho dù có nguy hiểm đến tính mạng ông cũng không e sợ. Cũng giống như Khổng Mạnh chi đạo, “sát thân thành nhân, xả thân vì nghĩa”. Vương Thiện Nhân sau khi xem ví dụ này vô cùng cảm động, kết quả đúng vào lúc đó phát sinh một sự việc. Có một người rất có học vấn, bị người ta hãm hại, sau đó Vương Thiện Nhân liền phấn đấu quên mình muốn đi giúp người đó giải vây. Ông không sợ tự mình sẽ gặp phải nạn gì, liền nhanh chóng đi giúp đỡ người hiền đức này giải vây. Đường đi được một đoạn thì trước mắt là một màu sáng rỡ, tâm chí trung chí thiện của ông làm cho minh đức thấu ra bên ngoài. Về sau, ông liền có thể giảng giải những đạo lý trong những Kinh điển này. Một thái độ học tập của ông đó là, ông nghe một câu chuyện về giáo dục đạo đức, tinh thần của Thánh Hiền này liền dung hòa với ông thành một thể.

Các vị bằng hữu, chúng ta xem qua “Quần Thư Trị Yếu”, có bao nhiêu vị là Thánh Hiền chúng ta đã dung hòa với ai thành một thể rồi? Vào lúc này các vị không thể cứ đờ người ra như vậy. Câu chuyện này chúng ta cũng đã nghe qua không ít lần rồi, có phải không? Chúng ta không cần nói đâu xa, nói gần đây nhất là được rồi, các vị xem vị thần tử đó rất chánh trực, phải không? Đều có thể nêu ra lời thật đối với lãnh đạo, vậy chúng ta đã học đến chánh trực chưa, trong hai tuần này cấp trên của bạn có chỗ nào chưa đúng bạn có khuyên hay không? Nếu như không có, vậy thì tinh thần đó vẫn chưa hòa tan với chúng ta thành một thể rồi. “Sách là sách, Thánh Hiền là Thánh Hiền, tôi thì cũng vẫn là tôi”. Giải và hành phải tương ưng thì mới có lợi ích. Cho nên, “quân tử vụ bổn”. Chúng ta dùng cái tâm mười phần thành kính để đọc mỗi một câu Kinh văn, lợi ích sẽ rất lớn. Chúng ta mấy tháng nay trọng điểm vẫn là “quân thần chi đạo”, những tiết học này của chúng ta nói “thần thuật”; chánh đạo của người làm thần tôi, tâm của người làm bề tôi, thân phận làm bề tôi, thì phải nên tận hết bổn phận ở đâu. Có lúc không có những Kinh điển này, có thể chỉ chúng ta tự tưởng tượng, sẽ bỏ sót qua rất nhiều việc đáng nên làm, nên tận hết bổn phận.

HẾT TẬP 57 – Xin xem tiếp tập 58 – Quần Thư Trị Yếu 360