QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 GIẢNG GIẢI – TẬP 63

Chủ giảng: Thầy giáo, Tiến sĩ Thái Lễ Húc
Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ
Thuyết minh: Hạnh Quang
Download toàn bộ MP3



Quần thư trị yếu 360 – Tập 63

TU THÂN – TỀ GIA – TRỊ QUỐC – BÌNH THIÊN HẠ

Thưa các trưởng bối, các học trưởng! Xin chào mọi người!

Tiết học trước chúng ta đã nhấn mạnh, là bề tôi chúng ta nên có những đức hạnh và phẩm đức làm người như thế nào? Nên có thái độ, phương pháp, kinh nghiệm làm việc như thế nào, như vậy mới có thể thật sự làm tròn bổn phận của chúng ta. Điều quan trọng nhất, đáng quý nhất của bề tôi, chính là lòng tận trung. “Tận hết mình gọi là trung”. Tận tâm tận lực làm việc, tận tâm tận lực nâng cao đức hạnh của bản thân mình, trí huệ, năng lực. Nâng cao đức hạnh, trí huệ, năng lực của bản thân mình, vẫn để cho lãnh đạo, đơn vị thúc giục, lo lắng, như vậy thì không được xem là tận trung. Người tận trung phải chủ động đảm trách, chủ động nâng cao mới đúng, hơn nữa không nên kể công. Bởi vì người trung thành thì sẽ trung nghĩa, họ cho đó là bổn phận, họ sẽ không kể công, thậm chí còn cẩn thận dè dặt, nơm nớp không cầu có công, chỉ mong không có lỗi. Làm tốt đó là bổn phận, không tranh giành công lao, nếu làm không được ổn thỏa thì phải vô cùng thận trọng, suy nghĩ lại để sửa đổi, không muốn tái phạm nữa vì sẽ tiêu hao nhân lực, vật lực, tài lực của đoàn thể.

Thời Đông Hán, có một đại tướng quân cũng phò trợ cho Hán Quang Vũ Đế, có thể chấn hưng lại triều nhà Hán. Bởi vì Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, rốt cuộc Hán Quang Vũ Đế Lưu Tú lại phục hưng triều nhà Hán, đại tướng quân Phùng Dị là vị quan có công lao rất lớn. Lúc thiên hạ đã ổn định rồi, những vị đại thần, đại tướng quân, đặc biệt là những tướng quân này đều bàn bạc, “chiến dịch nào công lao của tôi lớn nhất có l nhận được sự ban thưởng lớn nhất”. Ở đó tranh luận, hy vọng có thể được thưởng theo thành tích. Đại tướng quân Phùng Dị nhìn thấy được cảnh này không nói lời nào mà bỏ đi, đến ngồi dưới một cây đại thụ. Người xưa chẳng kể là quan văn hay tướng võ, đều có sự tu dưỡng nền tảng văn hóa truyền thống, khi gặp phải một số tình cảnh khó tránh khỏi tâm tham, tâm ngạo mạn khởi lên, nhưng mà nhìn thấy Đại tướng quân Phùng Dị chẳng tranh giành công lao, lặng lẽ bỏ đi, khi họ phát hiện thì trong tâm cảm thấy hổ thẹn. Sau khi Quang Vũ Đế biết được việc này, liền phong cho Phùng Dị là “Đại Thụ Tướng Quân”. Hoàng đế có trí huệ, nhìn thấy bề tôi có đức hạnh. Vừa phong thưởng như vậy, cả triều đình, cả nước học tập theo tấm gương của Phùng Dị. Đại thần không giành công, không tranh giành, đây là khí phách, sau khi thành công thì rút lui. Vừa phong thưởng như vậy, mọi người thời đó có thể học tập. Chúng ta hiện nay đã cách một – hai ngàn năm rồi, chúng ta cũng có thể học tập theo họ.

Cũng giống như vậy, vào thời nhà Hán đúng lúc hoàng đế ban thưởng cho “Ngũ Kinh Tiến sĩ”. “Ngũ Kinh Tiến sĩ” không phải là chuyện đùa, đó là trong số thành phần trí thức. Người học tập Kinh điển đạt trình độ cao nhất thì được phong là “Ngũ Kinh Tiến sĩ”. Hoàng đế ban thưởng cho mỗi tiến sĩ một chú dê. Nhóm tiến sĩ này đi lãnh thưởng, nhìn thấy một đám dê ở đó, các vị tiến sĩ liền bàn bạc với nhau, “chú dê này xem ra khá mập mạp, chú dê kia tương đối gầy…. Tôi phải lấy chú dê mập, nếu không thì tôi sẽ bị thiệt thòi, ở đó cùng nhau thảo luận, thậm chí có phần tranh cãi. Cuối cùng còn nghĩ đem cân đến cân, sự tính toán đến mức độ này. Ngay lúc đó, có một vị tên là Chân Vũ nhìn thấy tình huống này không nói câu nào, xem trong bầy dê đó có một chú gầy nhất, ông gật đầu. Ông không muốn phê bình bất cứ người nào, liền dắt chú dê gầy nhất đi. Những vị tiến sĩ này đọc nhiều Kinh sách, gặp phải hoàn cảnh không dằn được lòng tham, nhưng khi nhìn thấy hành động như vậy của Chân Vũ, mọi người đều xấu hổ không dám tranh giành với nhau nữa. Rốt cuộc, các vị đó xem chú dê nào tương đối gầy thì đến dắt về. Sau này, hoàng đế biết được câu chuyện liền phong cho Chân Vũ là, “tiến sĩ dê gầy”. Hoàng đế ngày xưa rất có trí tuệ, đều nắm bắt mỗi cơ hội để giáo hóa dân chúng, giáo hóa thần dân. Hễ giáo hóa lòng người mà thay đổi thì đất nước sẽ được phước, điều này thật sự đã hiểu nguồn gốc của cách xử lý việc chính trị, nhất định phải đặt việc giáo dục ở vị trí đầu tiên.

Các vị xem, chúng ta đọc “Đệ Tử Quy”, đọc đến “đông phải ấm, hạ phải mát”, là hạnh hiếu của Hoàng Hương thời Đông Hán. Ông mới chín tuổi, mẫu thân sớm qua đời, đối với phụ thân ông tận hiếu, chăm sóc từng li từng tí. Mùa đông thì ủ ấm mền, đắp mền cho ấm; mùa hạ thì quạt mát chiếu, chăm sóc rất chu đáo. Vị quan chức địa phương cũng làm tròn bổn phận, vì đất nước tuyển chọn những người hiếu thảo, tuyển chọn những người có đức hạnh, bẩm báo lên hoàng thượng về hạnh hiếu của đứa trẻ chín tuổi. Hoàng đế biết được chuyện này ban thưởng cho Hoàng Hương, thưởng cho tám chữ, “Thế gian không có Hoàng Hương thứ hai”. Liền thông báo với dân chúng, mọi người nên học theo tấm gương hiếu hạnh. “Dùng người tốt để giáo dục người kém, dân chúng sẽ tự khuyên bảo nhau”. Lời của Khổng Tử nói, các vị có thể nêu cao những thiện hạnh, thì người dân sẽ noi theo nếp sống lương thiện này, nếp sống lương thiện sẽ được khơi dậy. “Giáo bất năng”. Những người thiểu năng, cuộc sống khó khăn, thậm chí những người bị tàn tật bẩm sinh, các vị đều yêu quý, bồi dưỡng, chăm sóc họ, người dân vừa nhìn thấy, ồ, hoàng đế của chúng ta, cấp lãnh đạo của chúng ta rất nhân từ”, cảm động lòng dân. Họ cũng dùng lòng nhân từ như vậy để đối xử người khác. Chữ “khuyến” này, nghĩa là khuyến thiện, nếp sống chính là lấy từ trong “cử thiện”, “giáo bất năng”.

Chúng ta thấy Chu Văn Vương là vị vua nhân từ, ông chăm lo cho dân chúng; từ người chết vợ, kẻ góa chồng, con mồ côi, người cô độc, bắt đầu chăm sóc những người đáng thương này. Vì vậy chúng ta thấy, nêu lên tấm gương của Hoàng Hương, cả nước noi theo. Triều nhà Hán lấy việc hiếu thảo trị vì thiên hạ, “cha mẹ bệnh, nếm thuốc trước. Ngày đêm hầu, không rời giường”. Điều này chính bản thân của Hán Văn Đế đã làm được tấm gương, vì vậy triều nhà Hán có con hiếu thảo nhiều nhất, trên làm dưới noi theo.

Mọi người lật quyển “Nhị Thập Tứ Hiếu”, tôi đếm thử hình như là sáu – bảy chuyện của triều nhà Hán. Một triều đại có thể có nhiều hiếu tử như vậy, không đơn giản. Nêu lên những người con hiếu, mỗi một vị hoàng đế triều nhà Hán đều là Hán “Hiếu” Văn Đế, Hán “Hiếu” Cảnh Đế, Hán “Hiếu” Vũ Đế, lấy việc hiếu trị vì thiên hạ. Đây là làm theo lời của Khổng Tử. Thánh vương xưa có một loại đạo đức tuyệt vời và đạo lý tinh diệu, lấy nó để thống trị thiên hạ, người trong thiên hạ đều có thể rất hòa thuận mà tương thân tương kính, trên thuận thiên tử, dưới sống chan hòa, trên dưới không oán hận lẫn nhau. “Chí đạo” này là gì? Chính là lấy chữ hiếu để trị vì thiên hạ. Lấy chữ “hiếu”, “hiếu thuận là cái gốc của việc tề gia”. Gia đình hòa thuận vui vẻ, chuyển lòng hiếu thảo thành lòng trung thành với đất nước. Đoàn thể hòa thuận, thiên hạ ổn định, đều là từ chữ hiếu mà giáo hóa.

Từ những câu chuyện của triều nhà Hán: Phùng Dị, Chân Vũ, gồm có việc hoàng đế ban thưởng cho Hoàng Hương, đều là rất nhạy bén trong việc giáo hóa người dân.

Chúng tôi cũng vừa nhắc đến trường hợp của Phùng Dị, cũng là biểu dương một vị trung thần làm tròn bổn phận, tuyệt đối không tranh giành công lao, nếu làm không tốt thì phản tỉnh sâu sắc. Chúng ta thấy, Tiên sinh Gia Cát Khổng Minh là đại trung thần, hễ nói đến lòng trung thành không có ai mà không xem ông là tấm gương. Các vị xem, bởi vì một ơn tri ngộ, “nhận lấy trách nhiệm lúc quân bại trận, phụng mệnh trong khi nguy khó”. Hơn hai mươi mấy tuổi không dám buông thả, có thể gọi là mẫu mực, “hết lòng tận tụy, đến chết mới thôi”. Mà đối với công việc của mình, ông đề xuất cán bộ cấp dưới phải, “cần công ngô chi khuyết”. Nếu ông làm việc chỗ nào chưa đủ, chưa được thỏa đáng, thì nhất định phải tích cực báo với ông. Nhưng mong không có lỗi, “cần công ngô chi khuyết”. Hơn nữa, phát hiện lỗi lầm của bản thân mình thì liền xin lỗi với nhân dân. “Bố sở thất ư thiên hạ”. Đây là tấm gương của Khổng Minh. Hơn nữa, khi đối diện với những quyết sách, quyết định quan trọng, “tập chúng tư, quảng trung ích”. Hết lòng chỉnh lý, tổng hợp những ý kiến của đại thần rồi mới ra quyết định, không dám qua loa, đều là thể hiện thái độ tận trung của ông. Cho nên lời của một vị trung thần nói là đạo nghĩa, không phải là mưu cầu lợi ích, cũng không phải là đi tranh giành chức vụ, đó gọi là danh vọng lợi dưỡng, không phải là tận trung, đã cầu không có lỗi.

Chúng ta xem trong “Luận Ngữ” có nói: “Không lo vì không có địa vị, mà chỉ lo không chu toàn trách nhiệm”. Không lo không có chỗ phục vụ cho người khác, chỉ lo là thật sự ngồi lên vị trí đó rồi có thể làm tốt công việc của tập thể, của đại chúng hay không? Chân thật có năng lực, cho dù không có cơ hội để phục vụ thiên hạ, họ cũng yên tâm thoải mái. “Khi chưa gặp thời thì làm tốt cho riêng mình, lúc hiển đạt thì làm thiện khắp thiên hạ”. Khi thật sự có cơ hội, năng lực làm người làm việc của họ đã đầy đủ, thì họ mới có thể “làm thiện khắp thiên hạ”.

Chúng ta thấy Khổng Minh hai mươi mấy tuổi, trí tuệ làm người làm việc của ông đã đạt tới cảnh giới rất cao, chờ đợi cơ hội để phục vụ nhân dân. Vì vậy, phong độ của quân tử, của trung thần là, “quân tử sĩ bất tu, bất sĩ kiến ô”. Xấu hổ vì chính mình không chân thật tu hành, mọi người hủy báng, phê bình cũng không cảm thấy xấu hổ. “Sĩ bất tín, bất sĩ bất kiến tín”. Xấu hổ vì bản thân mình chưa làm được sự việc, hành động đáng để cho mọi người tin tưởng. Nếu làm tốt mà mọi người vẫn hoài nghi, họ không khó chịu, không cảm thấy xấu hổ, đều yêu cầu ở chính mình. “Quân tử cầu ở chính mình”. Không cầu ở người khác, không chỉ trích người khác. Tiểu nhân mới cầu ở người khác, đùn đẩy trách nhiệm đi. Cuối cùng nói: “Sỹ bất năng, bất sỹ bất kiến dụng. Xấu hổ là bản thân không có năng lực đối nhân xử thế để tận bổn phận. Thật sự có khả năng đối nhân xử thế, cho dù không được trọng dụng cũng không buồn, gọi là “sỹ bất năng, bất sỹ bất kiến dụng”. Thật sự có đủ những năng lực này mà không được trọng dụng, vẫn bao dung, độ lượng. Giống như Khổng Tử nói với Nhan Hồi: “Được dùng thì gắng làm, không được dùng thì ở ẩn”. Được dùng thì tận tâm tận lực vì đất nước mà phục vụ, chưa được dùng tự mình hãy vui với đạo của cổ Thánh tiên Hiền. “Một chén cơm, một bầu nước, ở ngõ hẻm. Người khác thì buồn không chịu nỗi, riêngồi Hồi thì không hề muốn thay đổi điều này. Tuyệt đối không oán hận, không suy tính thiệt hơn.

Ngày nay muốn dùng một đại thần, tuyệt đối không dùng người suy tính thiệt hơn, bởi vì suy tính thiệt hơn thì ngã chấp, ngã tham rất nặng. Thật sự nếu để họ nắm quyền lực, có thể họ sẽ tự tư tự lợi, kết bè lập phái. Lợi ích phe nhóm sẽ không tốt. Suy tính thiệt hơn chính là tham. Cái tham này đợi đến khi họ có địa vị, có quyền lực, thì càng nguy hiểm hơn.

Vì vậy Khổng Tử cũng đã nói: “Kỳ vị đắc chi dã”. Khi họ chưa có được chức vị thì lo sợ không được. “Ký đắc chi”. Thật sự để cho họ có được quyền lực rồi. “Hoạn thất chi”. Trong lòng lo lắng năng lực của người khác giỏi hơn mình, chiếm mất của mình thì phải làm sao, cướp mất vị trí của mình thì phải làm sao. “Cẩu hoạn thất chi”. Hết sức lo sợ quyền lực của mình mất đi. “Vô sở bất chí h”. Họ sẽ nghĩ nhiều cách phải củng cố thế lực và địa vị của mình, vậy thì rắc rối. Họ không phải là thanh liêm chánh trực. Kinh điển còn có những khí phách của các trung thần như vậy, đều là, “sĩ bất năng, bất sĩ bất kiến dụng”. Bản thân có năng lực, có đức hạnh hay không, mới là trọng điểm.

Chúng ta học “thần thuật”, thứ nhất về sau này biết dùng nhân tài rường cột như thế nào. Nhưng mà, học rồi có thể biết nhìn người, trước tiên phải tự biết mình. Chúng ta muốn làm một người lãnh đạo tốt, trước tiên chúng ta phải là một thuộc hạ tốt. Chúng ta muốn làm một người cha tốt, trước tiên chúng ta phải là một người con ngoan. Chúng ta muốn làm một thầy giáo giỏi, trước tiên chúng ta phải là một đệ tử tốt của Thánh Hiền, nếu không thì chúng ta không có tư cách để dạy học trò cho tốt, dạy thuộc hạ cho tốt, dạy thế hệ sau cho tốt, bởi vì bản thân chúng ta đều chưa làm được. “Người quân tử lo cái gốc, cái gốc vững vàng thì đạo lý mới sanh”, “biết được trước sau thì đã gần với đạo rồi”. Chúng ta học “Thần Thuật”, khóa mục khá lớn này trước tiên, tự biết mình là sáng”. Chúng ta tự biết mình thì mới có thể biết người. “Muốn biết được người, trước tiên phải tự biết mình”. Chính bản thân chúng ta nhìn không được rõ ràng mà muốn nhìn rõ người khác, không thể được! Bởi vì bản thân mình, cùng với chính mình mỗi ngày hai mươi bốn giờ đồng hồ sống chung với nhau mà nhìn còn chưa rõ, huống hồ là nhìn người khác. Điều này là không có nền tảng. Chúng ta xem bản thân chúng ta đối nhân xử thế có thể là một trung thần tốt hay không? Chúng ta lấy Kinh điển làm tiêu chuẩn, một thần tử đối nhân thì không rời khỏi “ngũ thường – bát đức”. Đây là tiêu chuẩn của đạo đức.

Hiện nay vì sao người làm lãnh đạo đều cảm thấy khó dẫn dắt thuộc hạ? Bởi vì chúng ta làm vua, làm bề tôi, nên có đủ đức hạnh. Hiện nay không được yêu cầu, không được giáo dục. Chúng ta xem “bát đức”: hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, nhân, ái, hòa, bình. Hai phần “bát đức” này hợp lại là mười hai đức tính. Mọi người nghĩ xem, một bề tôi hiếu – đễ, họ chuyển hiếu thành lòng trung thành, họ thương yêu anh em, kính nhường, họ đi đến đơn vị sẽ không thương yêu đồng nghiệp hay sao? Đồng nghiệp cũng là anh em, vì vậy trung thành không tách khỏi hiếu – đễ. Ở nhà đối với cha mẹ, đối với anh em đều thành thật đáng tin, ăn ở theo lẽ phải, họ đi đến đơn vị cũng rất tự nhiên đối xử với đồng nghiệp giống như vậy. Ở nhà rất có gia giáo, giữ lễ nghi, đối người thì khiêm tốn, nhún nhường, trong đoàn thể làm sao mà có sự tranh chấp nhiều như vậy, làm sao mà có hành vi thấy lợi quên nghĩa được chứ. Liêm sỉ thì không tham ô. Có tâm hổ thẹn thì nhất định sẽ không để cho đơn vị, cho quốc gia mất thể diện.

“Đức tổn thương, cha mẹ tủi”. Đây là có tâm hổ thẹn. Họ nhân từ, chắc chắn họ sẽ phục vụ tốt đối tượng mà họ cần phục vụ, rất  yêu kính họ, hòa bình. Lấy đại cuộc làm trọng, lấy sự hòa hợp với nhau làm trọng, thì trong đoàn thể hiện nay sẽ không có vấn đề về nhân sự nhiều như vậy. Bình là bình đẳng, tâm bình khí hòa, đối diện với bất cứ lỗi lầm của người khác, làm nhục, hủy báng, vẫn bình tâm tĩnh trí mà đối xử. Các vị xem, “bát đức” đều là trung thần nên có đức tánh này.

Trước tiên chúng tôi đi sâu chia sẻ phần  “ngũ thường”: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. “Ngũ thường”; “thường”, nghĩa là thường hằng bất biến. “Tả Truyện” nói:  “Khí thường tắc yêu hưng”. Các vị đã lệch khỏi ngũ thường thì rất nhiều xung đột, hiện tượng quái lạ của đoàn thể sẽ xuất hiện. Chúng ta thấy, trước đây nghề sản xuất thực phẩm tận tâm tận lực mà làm, sau đó thì những món không được ngon đều mang về cho gia đình mình mà ăn, món ngon nhất thì nhường người khác ăn. Hiện nay thì ngược lại, rau của mình trồng thì mang đi bán cho người tiêu dùng, bón rất nhiều thuốc trừ sâu, bản thân gia đình mình thì không dám ăn. Việc này sao thể hiện được một người có lòng nhân từ được? Gồm cả việc thực phẩm bẩn hiện nay tấp nập xuất hiện, làm cho người ta khiếp sợ. Chỉ là mưu cầu tư lợi, xem mạng người như cỏ rác. Vì vậy bỏ đi chữ “thường” này, thật sự đã xuất hiện những hiện tượng kỳ quái này. Từ trong “ngũ thường”, chúng ta xem khí phách của một bề tôi phải nên có. “Nhân”:  nhân từ, nhân ái. Ông trời có đức hiếu sinh. Từ lĩnh vực chính trị mà nói, thiên tử đại diện cho ông trời thương yêu người dân, tất cả quần thần là đại diện cho thiên tử chăm lo cho người dân; vua nhân từ, bề tôi trung thành. Những vị quan địa phương này vừa là vua, vừa là bề tôi, họ phải thực hành nền chính trị nhân từ, cảm thông nỗi đau khổ của người dân. Vì vậy, tuyển chọn quần thần phải nên chọn từ chữ “nhân”, cũng phải luôn luôn xem chính mình có cảm thông với người dân hay không. “Nhìn người đói như mình bị đói, nhìn người chết chìm như mình bị chết chìm”. Điều này rất quan trọng. Vì vậy, Mạnh Tử đã nói ba đời Hạ Thương Chu, vì sao được thiên hạ, được lòng dân? Chính là nhân từ, “lấy nhân từ”. Châu Văn Vương, nhân từ đến mức độ nào vậy? Đi qua một nơi, nhìn thấy một số xương cốt phơi bày ở nơi đồng hoang trong lòng không chịu được, nhanh chóng xây một ngôi mộ để an táng phần xương cốt này. Lòng nhân từ như vậy, có thể quan tâm đến người đã chết, gọi là “ai cập khô cốt”. Tâm thương xót, đến cả xương cốt cũng đối xử như vậy. Ông có thể nghĩ những người này có thể là tổ tiên của chúng ta, chúng ta nên “thận chung tri viễn”. Sắp xếp ổn thỏa những xương cốt này xong, người dân cảm động rơi nước mắt. Lòng nhân từ của Văn Vương đến mức độ đó, làm sao mà không thể yêu thương người dân được?

Trong lịch sử có nói, triều đại nhà Chu có Thánh nhân nhiều nhất, đương nhiên công lao thứ nhất thuộc về “Tam Thái” thánh mẫu. Có thánh mẫu mới có được con cháu hiền, hơn nữa cũng là tiên vương nhân từ, khiêm nhường của họ. Triều nhà Chu cũng là hậu duệ của Hậu Tắc. Hậu Tắc là quan thượng sĩ, vì sinh kế của thiên hạ mà bôn ba. Lúc đó ông cũng là đại thần của Đại Vũ chuyên trông coi việc làm nông, người dân xem lương thực là nhu cầu hàng đầu. Hậu Tắc được sinh ra ở ở Dương Lâm của Thiểm Tây, truyền đến Thái Vương. Vào thời của Cổ Công Đãn Phu, đúng lúc xung quanh của Nhung Di là người của một bộ tộc luôn đến quấy nhiễu lãnh thổ của Thái Vương. Thái vương vốn nghĩ những người đó có thể là cần một số đồ vật, liền cho họ những thứ đồ vật đó. Những lần kế tiếp sau này, Thái Vương dù sao cũng cảm nhận được, họ không chỉ muốn những tài vật mà còn muốn mãnh đất này của ta. Giả như ta muốn ở lại mãnh đất này, có thể người dân phải đánh nhau với bộ tộc man di này, thương vong sẽ rất nhiều. Vì vậy Thái Vương không muốn người dân bị thương vong, thừa lúc nữa đêm nhanh chóng bỏ đi, bỏ lại đất đai, không cần mãnh đất đó nữa, sẽ sanh ra thương vong nghiêm trọng. Ông đến chân núi Kỳ và ở lại đó. Hôm sau dân chúng nói: “Thái Vương đi đâu rồi?”. Vừa hỏi xong thì biết không nỡ để dân chúng chịu tổn hại, cho nên bản thân vua lặng lẽ bỏ đi, không tranh giành đất đai với người ta. Dân chúng vừa hiểu ra, “vị vua nhân từ như vậy, có bỏ đi đâu thì ta cũng đi theo đến đó”, tất cả dân chúng cùng theo vua đi đến núi Kỳ. Chúng tôi nghe đến chỗ này vô cùng chấn động. Các vị xem, tổ tiên của chúng ta là gì? Chỉ nghĩ  đến dân chúng, đến cả đất đai cũng có thể nhượng hết, vậy thì còn gì mà phải trành giành chứ. Thật sự là lấy đức hạnh, lấy nhân từ phục thiên hạ, bao gồm cả chữ “nhượng” này.

Con trai của Thái vương là Thái Bá, Trọng Ung, Vương Lý. Thái Bá và Trọng Ung đều là Thánh nhân, nhìn thấy phụ thân của mình rất hợp ý với người cháu Văn Vương. Nhưng chiếu theo quy củ thì ngôi vua sẽ được truyền lại cho Thái Bá, kế tiếp mới là Trọng Ung, cuối cùng là Vương Lý. Vương Lý xếp thứ ba. Các vị xem, Thái Bá, Trọng Ung nhìn sắc mặt liền hiểu được ý của phụ thân, hai anh em lặng lẽ nhân lúc người nhà không để ý liền bỏ đi, nhường ngôi vua lại cho em trai của mình, sau đó nhường cho cháu của mình tiếp nối ngôi vua. Khổng Tử tán thán, không biết dùng hình dung từ như thế nào để miêu tả đức hạnh của Thái Bá và Trọng Ung, “ba lần nhường thiên hạ cho người khác”. Điều này là do tiên vương của họ để lại tấm gương. Mà nhường rồi thì không còn nữa phải không? Hiện nay người ta nhìn chưa được thông, “tôi nhường rồi thì không còn nữa”. Thật sự sau khi tranh giành thì sẽ tạo tội nghiệp, gọi là tiểu nhân oan uổng làm tiểu nhân, quân tử vui vẻ làm quân tử. Đã là phước báu của cuộc đời chúng ta, ai có cướp cũng cướp không được; không phải là phước của ta, có tranh cũng tranh không được. Cho nên, con người hiểu được đạo lý này thì sẽ không đi làm những chuyện hồ đồ. Lý đắc thì tâm liền an, có cái gì có thể tranh giành chứ?

Chúng ta xem Thái Bá không tranh giành, nhường lại ngôi vua, đi đến vùng Giang Tô – Chiết Giang lúc đó vẫn chưa được khai phá, là nơi khá hoang vắng. Cuộc đời đất đai không quen thuộc, đến tiếng nói cũng không thông thạo, nhưng mà đi đến nơi đó một khoảng thời gian, người dân nơi đó rất tôn kính ông, ủng hộ ông, ở nơi đó ông lại làm vua. Vì vậy ông vẫn là quốc vương, trong mạng của ông đã có dù có chạy đi xa cỡ nào thì ông cũng là quốc vương.

Chúng ta xem Lý Trát trong những câu chuyện “Đức Dục”. Vua nước Ngô đều là hậu duệ của Thái Bá, Trọng Ung. Hậu duệ cũng là thánh nhân. Vì vậy, thật sự triều nhà Chu lấy nhân từ mà được thiên hạ, Hạ Thương Chu cũng là như vậy. Vì vậy, một vị là bề tôi trước tiên phải có phẩm đức nhân từ. Mỗi một đoàn thể đều mong muốn, sự nghiệp của họ có thể được truyền thừa dài lâu.

Chúng ta xem Đồng Nhân Đường hơn 300 năm, họ cũng giải quyết bằng sự nhân từ. Tất cả thuốc họ bán tuyệt đối không bớt xén nguyên liệu, luôn luôn nghĩ phải để cho bệnh nhân có thể hết bệnh. Đồng Nhân Đường trong thời kỳ có dịch bệnh Sars, tình huống lúc đó vô cùng nguy cấp, thuốc của họ sản xuất vào thời kỳ đó chỉ cần bán một bao là bị lỗ hai đồng. Quốc gia gặp nạn, làm sao có thể kiếm lời lúc quốc gia gặp nạn chứ. Vì vậy trong khoảng thời gian đó họ đã bán ra ba triệu bao thuốc trị bệnh Sars, bị lỗ sáu triệu đồng. Không chỉ lúc đó làm như vậy, vào thời nhà Thanh, đối diện với nguy nan của quốc gia, Đồng Nhân Đường cũng làm như vậy. Vì vậy, họ có thể tồn tại hơn 300 năm. Cũng là “nhân” mà hơn 300 năm truyền thừa như vậy, mỗi một người kế thừa họ nhất định cân nhắc có tấm lòng nhân hậu như vậy không? Vì vậy, một đoàn thể tìm người kế thừa rất quan trọng.

“Bất hiếu có ba tội, không người nối dõi là tội lớn nhất”. Đã từng có người phỏng vấn vua kinh doanh của Nhật Bản là ông Inamori Kazuo, hỏi là “ông tìm người kế thừa sẽ xét như thế nào?”. Ông Inamori nói: “Xét  năng lực của người đó, xét sức lực và tinh thần của người đó. Thật sự có được những điều này, năng lực kinh doanh rất thâm hậu, nhưng điều này không phải là điều quan trọng nhất. Không chỉ suy xét những lai lịch của người đó, điều quan trọng hơn là người đó có tâm nhân nghĩa hay không, có tâm luôn luôn vì đại chúng phục vụ hay không? Hết thảy điểm khởi đầu của người đó đều là nhân từ, đều là đạo nghĩa, phải có nhân cách, phẩm chất riêng này, mới thích hợp cho việc thừa kế”. Thật sự điều này tương ưng với Kinh điển.

“Tam Đạt Đức” được nói trong “trung dung”, một người có đức hạnh hay không xem “Tam Đạt Đức”. “Thích học thì gần với sự có trí”. Người đó suy nghĩ có sâu xa hay không? “Cố sức làm, là gần có nhân”. Đối với nghề nghiệp của người đó, trong quá trình phục vụ đại chúng, đối với nhu cầu của đại chúng càng ngày có được chăm sóc chu toàn hay không? Phải từ sự nhân từ mà xem phẩm đức của người đó. “Cố sức mà làm là gần với nhân”, “biết thẹn là đã gần với dũng”. Người đó không ngừng đổi mới, không ngừng sửa chữa, sáng tạo ra sản phẩm càng thích hợp với nhu cầu của người hiện nay. Hoặc giả là một vị chính khách, đưa ra những chính sách càng phù hợp với người dân, phúc lợi đều ở trong “Tam Đạt Đức”. Những đạo lý của ông Inamori đã nói cũng không rời khỏi nguyên tắc, nguyên lý của Tứ Thư. Vì vậy, Tứ Thư là sách quý để trị quốc. Không cần nhiều, hết lòng thâm nhập. Những Kinh điển này là tinh hoa của Kinh, Sử, Tử, đều nằm trong bộ “Quần Thư Trị Yếu” này, là do Ngụy đại nhân tuyển chọn. Chúng ta tuyển chọn thì đầu óc sẽ mơ màng căng thẳng. Trí huệ cao độ như vậy đều thông đạt Kinh, Sử, Tử của những hiền nhân đương thời để làm cái công việc này, vì vậy chúng ta rất có phước báu, rất có phước phần, đứng trên đôi vai của người khổng lồ mà học tập.

Hơn nữa, tâm thương yêu ngoài việc thể hiện ở chỗ yêu nhân dân thì trong công ty, trong đoàn thể, trước tiên phải yêu quý nhân viên của mình. Vì vậy, tổ chức công ty của ông Inamori đối tượng đầu tiên được chăm sóc là nhân viên và gia đình của họ. Bởi vì nhân viên là tài sản lớn nhất của cả tập thể, là nền tảng quan trọng nhất.

“Vi chánh tại nhân”, “nhân tồn chánh cử”. Các vị phải có người mới làm được việc. ông là tư sản vô hình, hơn nữa so với tư sản hữu hình quan trọng hơn rất nhiều. Các vị có tiền mà không có nhân tài, thì tổ chức này rất mong manh. Các vị có nhân tài mà không có tiền, thì trước sau gì cũng thịnh vượng. Vì vậy, ông Inamori trước tiên chăm sóc nhân viên tốt. Đây là nhân nghĩa. Thứ hai là chăm sóc khách hàng tốt, sau đó mới đến cổ đông.

Hiện nay rất nhiều công ty đã làm ngược lại, cuối cùng là lơ là người tiêu dùng, lơ là quyền lợi của nhân viên, công ty như vậy sẽ không hoạt động được dài lâu. Vì vậy chăm sóc nhân viên khỏe mạnh, chăm sóc gia đình của nhân viên, thậm chí gồm cả việc dẫn dắt tư tưởng quan niệm của họ, giáo dục luân lý đạo đức cho họ, để cho họ có một gia đình hạnh phúc, cho đến có được thế hệ sau tốt đẹp.

Hiện nay ở Đại Lục có rất nhiều công ty soạn ra những giáo trình luân lý đạo đức để cho nhân viên, thậm chí là thế hệ sau của họ đều được lợi ích, được học tập. Có thể lo nghĩ cho con cháu của nhân viên, đây cũng là điều phúc hậu. hiền gặp lành”, trong tương lai họ sẽ được phước. Sự nhân từ như vậy thể hiện ở rất nhiều chỗ vi tế.

Giả như sự quan tâm tình cờ đến nhân viên, “con của cô hôm đó bị sốt, hôm nay đã đỡ chưa?”, “mẹ của anh mấy hôm trước hình như không được khỏe, anh vẫn đang nghỉ phép, hôm nay bác đã đỡ chưa?”. Lúc nào cũng quan tâm, lúc nào cũng để ý, điều này vô hình trung trong lòng của nhân viên càng lúc càng lắng đọng lại. Chớ nên bận rộn đến cuối cùng không quan tâm, cũng không để ý, hễ nhìn thấy là làm nghiêm với công việc đó, hoặc là trách mắng người ta, đến cuối cùng lòng người cũng nguội lạnh. “Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa”. Đều là nhờ vào nhân nghĩa, đức hạnh để chiêu cảm nhân hòa.

HẾT TẬP 63 – Xin xem tiếp tập 64 – Quần Thư Trị Yếu 360